Lundi 1 novembre 2010 1 01 /11 /Nov /2010 19:50

 

 

 

 

 

Tiểu Đệ

 

 

Nhân viết bài các nghệ sĩ đã qua đời, xin tiếp nối : Tìm hiểu sự lâm chung cho đến mai táng cúng kiến như thế nào?
Xin mạo muội trích dẫn theo dĩa thuyết giảng của Hòa Thượng Thích Giác Hạnh trong khóa tu 54 Phật thất tại chùa Hoằng Pháp, A Di Đà (dĩa VCD Thuốc Hay), thì khi người Lâm Chung, nếu chúng ta rờ nơi vào thân người đó, thấy nóng chổ nào thì thân trung ấm vãng sanh nơi đó, nếu nóng ở đỉnh đầu là bậc thánh, ở mặt là cỏi trời, ở ngực là trở lại làm người, ở bụng là ngạ quỉ, ở đầu gối là bàn sanh, ở lòng bàn chân là địa ngục.
Lâm mạng (hấp hối) 临 命
Chung thời (chết) 终 时 Lâm chung 临 终
Giữ chư thánh chúng hiện tại kỳ tiền
与 诸 圣 众 现 在 其 前
Thị nhân chung thời tâm bất điên đảo
视 人 终 时 心 不 颠 倒
tức đắc vãng sanh
即 得 往 生
Thánh đảnh nhản sanh thiên
圣 等 眼 生 天
Nhơn tâm ngạ quỉ phúc
人 心 饿 鬼 福
Bàn sanh tất cước ly
旁 生 必 脚 离
Địa ngục khước tâm xuất
地 獄 却 心 出
Cuộc đời khó ai biết được tương lai, để chọn sự sống được sung túc thoải mái về vật chất lẫn tinh thần mãi mãi hết được. Bởi vì, nhân loại bị chi phối các vận hành Trời Đất tạo nên trong thời gian nào đó, vì thế mọi người không thể thoát khỏi luân hồi : Sanh, Lão, Bịnh và Tử.
Do vậy, đã làm con người thì có sanh có tử trong kiếp con người không một ai tránh khỏi, khi Cha Me sanh ta ra mỗi người mỗi gia cảnh, mỗi phương cách khác nhau, đều do căn nghiệp của ta cùng tạo hóa sắp bày mà ra, để rồi khi lìa đời cũng không một ai giống nhau và mọi người đang sanh sống không ai không biết sẽ có ngày chết, ngưởi chết sớm vì sống nhỏ tuổi, ngưởi chết già vì sống thọ lớn tuổi.
Hơn nữa, chúng ta đã biết cái chết sẽ làm cho gia đình người chết phải đau khổ tột cùng, vì mất một người thân. Từ đó, tất cả đời sống chúng ta có được hiện tại chỉ là tạm bợ kể cả bản thân, chớ không phải của riêng chúng ta mãi mãi. Nếu con người biết tìm đường tu tập học Phật Pháp để thoát khỏi luân hồi sanh tử vĩnh viễn, thì sẽ có ích lợi vô cùng.
Nhân đây, xin trích dẫn dành cho người lúc lâm chung, nhưng khi chung mạng không thể vãng sanh Tây phương cực lạc như sau :
1.- Có hạng người niệm Phật lúc bình thường công phu niệm Phật chưa được thuần thục, đến lúc lâm chung tuy có tâm nguyện cầu sanh Tây phương cực lạc, nhưng vì bệnh nặng không thể nhất tâm niệm Phật, lại không được trợ duyên niệm Phật và còn gặp cảnh bà con bi ai khóc lóc gây chướng ngại, để rồi khi chung mạng không thể vãng sanh Tây phương cực lạc được, mà phải đọa lạc vào cảnh giới khổ đau.
2.- Có hạng người niệm Phật lúc bình thường công phu niệm Phật chưa được thuần thục, đến lúc lâm chung lại được trợ duyên niệm Phật rất tốt. Nhưng người này tâm vốn điên đảo lại tham luyến tình ái thế gian chí đến đắm trước vợ con, tài sản... không chịu nhất tâm nguyện cầu sanh Tây phương cực lạc, để rồi khi chung mạng không thể vãng sanh Tây phương cực lạc, mà phải trở lại đọa lạc vào cảnh giới sanh tử luân hồi.
3.- Có hạng người niệm Phật lúc bình thường, nhưng chỉ chuyên cầu nhà cửa khang trang, mạng sống an vui lâu dài, đến khi lâm chung chỉ lo sợ chết, chỉ mong cầu bệnh mau thuyên giảm, nhưng không phát tâm cầu sanh Tây phương cực lạc, để rồi khi chung mạng không thể vãng sanh Tây phương cực lạc, sau cùng sẽ tùy theo nghiệp nhân phiền não ác độc ra đi quyết đọa lạc trong tam đồ ác đạo.
Ngoài ra, xin trích dẫn dành cho người lúc lâm chung, nhưng khi chung mạng được vãng sanh Tây phương cực lạc như sau :
Riêng đối với người sắp lâm chung, các người trong gia quyến biết nhất tâm niệm Phật để trợ niệm cùng tiễn đưa thần thức người chết được vãng sanh, lại không bi ai khóc lóc để cho thần thức người mạng chung niệm Phật nhất tâm đi trên con đường cầu vãng sanh Tây phương cực lạc, đem đến kết quả tốt đẹp như ý muốn, bởi vì, thần thức người sắp lâm chung không bị xáo trộn để đưa đến đọa lạc vào địa ngục hay đọa vào các đường ác ngạ quỷ, súc sanh trong chốn đau khổ.
Hơn nữa, có người lúc bình thường không có lòng tín nguyện niệm Phật cầu vãng sanh, nhưng khi lâm chung lại gặp được thiện tri thức khai thị
và thân nhân trong gia quyến không bi ai khóc lóc, nhứt tâm niệm Phật để trợ niệm, khiến cho tâm người lâm chung hoan hỉ cầu vãng sanh Tây phương cực lạc được Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn đúng theo bốn mươi tám đại nguyện của Ngài.
Nhân đây, xin trích dẫn 48 đại nguyện của Đức Phật A Di Đà sau đây :

http://www.tangthuphathoc.net/tinhdo/48loinguyenphatadida-dichtho.htm

 

48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà
Dịch thơ - 1995
Văn vần
Thích Minh Phát
đã được Chùa Khánh Anh Paris đăng trong Nghi Thức Tụng Niệm từ trang 159 đến trang 172.

 

NGUYỀN THỨ NHỨT : Tôi thành Phật được,
Thì nước tôi là nước tịnh thanh,
Ngục hình ngã quỉ, súc sanh,
Thảy đều chẳng có sanh thành nơi đây.

NGUYỀN THỨ HAI : Nước này tịnh giới,
Đàn bà cùng con gái tịch nhiên.
Những người trong các nhơn, thiên,
Cùng loại cầm thú cần chuyên tu hành.
Thảy đều đặng hoá sanh thọ cảm,
Thất bảo trì cửu phẩm liên hoa.

NGUYỀNTHỨ BA : dân chúng Phật Đà,
Khi cần ăn uống, hoá ra sẵn sàng.
Bát thất bửu, bỉ bàng đựng lắm,
Trăm món ngon khỏi sắm ở đâu.
Ăn rồi khí dụng liền thâu,
Không cần phải rửa, phải lau nhọc nhằn.

NGUYỀN THỨ TƯ : nhân dân trong nước,
Muốn áo quần, khăn, lược, mão, giày,
Thảy đều hoá đủ sẵn bày,
Khỏi mua khỏi giặt, khỏi may cực lòng.

NGUYỀN THỨ NĂM : giáp vòng địa lợi,
Từ đất bằng lên tới hư không.
Thảy đều lầu các điện cung,
Cùng là cây trái ao sông cửa nhà.
Các thứ ấy đều là trân bửu,
Cùng bá thiên hoa báu hương thơm.
Hợp nhau thành tạo kết đơm,
Trau dồi trang sức, cho làm phiền ba.
Mùi hương ấy xông ra khắp đủ,
Cả mười phương hưởng thụ cấp kỳ.
Chúng sanh hạnh Nguyện chuyên trì,
Tin và tưởng Phật, đến thì vãng sanh.

NGUYỀN THỨ SÁU : dân lành quốc độ.
Thương kính nhau quí tợ ruột rà.
Không lời qua lại bất hoà,
Không ganh không ghét, sanh ra tranh giành.

NGUYỀN THỨ BẢY : dân sanh trong nước,
Không có lòng uế trược dâm ô.
Cũng không có tánh tục thô,
Cùng là nóng giận, hồ đồ, ngu si,

NGUYỀN THỨ TÁM : chuyên trì thiện niệm,
Cứ đường ngay, tiệm tiệm lướt đi.
Nếu ai muốn nói chuyện gì,
Người kia hiểu ý tức thì khỏi phân.

NGUYỀN THỨ CHÍN : chúng dân từ thiện,
Tai chẳng nghe những chuyện không lành.
Có đâu sự ác tự hành,
Mấy điều nghiệp chướng đã thành vô danh.

NGUYỀN THỨ MƯỜI : chúng sanh đều ví,
Huyễn thân là mộng mị mà thôi
Vậy nên lòng chẳng nhiễm đời,
Tánh không tham muốn, khắp nơi vui cười.

NGUYỀN MƯỜI MỘT : tiên, người, tuy khác
Hình dung đồng một sắc vàng y.
Mặt mày nghiêm chỉnh phương phi,
Trong ngần, đẹp đẽ, không chi ví bằng.

NGUYỀN MƯỜI HAI : mười phương thế giới,
Thiên, nhơn, cùng các loài súc sanh.
Hoá thân về cõi lạc thành,
Chứng ngôi duyên giác thinh danh trùng trùng,
Ngồi Thiền toạ, chăm lòng tịch tịnh,
Hiệp cùng nhau tính tuổi it nhiều.
Chẳng hề biết đặng bao nhiêu
Ngàn, muôn, ức kiếp số nhiều khó phân.

NGUYỀN MƯỜI BA : thiên, nhơn, trên giải.
Hiệp cùng nhau đếm mãi dân cư.
Không hề rõ biết số dư,
Tại An Dưỡng Quốc nhiều như cát Hằng.

NGUYỀN MƯỜI BỐN : dân hằng quốc độ,
Thảy thảy đồng trường thọ miên miên.
Không sao biết đặng số niên,
Sống lâu vô lượng, vô biên kiếp đời.

NGUYỀN MƯỜI LĂM : dân thời thanh tịnh,
Trụ vào ngôi chí tánh tự nhiên.
Ly chư loạn tưởng đảo điên,
Đắc vô phân biệt chứng duyên Niết Bàn.

NGUYỀN MƯỜI SÁU : Lạc bang dân chúng,
Vui vẻ mà thọ dụng đủ đều.
Thảy đồng với các Tỳ kheo,
Chứng phần Vô Lậu chẳng theo sự đời.

NGUYỀN MƯỜI BẢY : khi tôi thành Phật.
Sẽ giảng kinh thuyết thật độ sanh.
Làm cho sở Nguyện đắc thành,
Công tôi giảng đạo trọn lành hơn ai.

NGUYỀN MƯỜI TÁM : hoá thai cõi dục.
Người người đều đắc Túc Mạng thông.
Rõ điều tiền kiếp xa trông,
Hằng hà sa kiếp biết đồng kim sanh.

NGUYỀN MƯỜI CHÍN : chúng sanh ức vạn,
Đắc thần thông thiên nhãn tịnh quang.
Thấy toàn vũ trụ mười phương.
Trùng trùng duyên khởi thế gian tỏ tường.

NGUYỀN HAI MƯƠI : Tây phương dân chúng,
Thiên Nhĩ Thông đắc dụng nghe xa.
Những lời phát Nguyền bủa ra.
Của trăm ngàn ức Phật Đà khẩu tuyên.

NGUYỀN HĂM MỐT : nhơn thiên trong nước
Tha Tâm Thông biết được chẳng sai,
Những điều tâm niệm mỗi loài,
Thập phương thế giới cầu ngoài tánh linh,

NGUYỀN HĂM HAI : chúng sanh quốc độ,
Thần Túc Thông đắc ngộ dong chơi,
Bao hàm thế giới nơi nơi,
Vượt qua một mạch, mau thời hơn bay,
NGUYỀN HĂM BA : khi tôi thành Phật,
Danh hiệu con tỏ thật mười phương.
Phật và đại chúng tán dương,
Còn dân trong nước lai vương tôi hoài.
Thiên, nhơn với các loài thú vật,
Niệm danh con cho thật chí thành.
Sanh lòng vui vẻ hiền lành,
Lâm chung sẽ đặng hoá sanh sen vàng.

NGUYỀN HĂM BỐN : ánh quang minh chiếu,
Nơi đầu con tuyệt diệu rõ ràng.
Mặt trời cùng ánh mặt trăng,
Tuy là sáng tỏ chẳng bằng Phật quang.

NGUYỀN HĂM LĂM : hào quang tôi chói,
Khắp cùng nơi ngõ tối khúc quanh
Thiên, nhơn cùng các súc sanh,
Thấy liền đặng khởi lòng thành qui y.

NGUYỀN HĂM SÁU : bất kỳ nhơn, thú,
Trong thập phương vũ trụ vân vân.
Nhờ hào quang chiếu đến thân,
Từ hoà tâm tánh hơn dân cõi trời.

NGUYỀN HĂM BẢY : Tiên, Người, phát ý
Tâm Bồ đề trì chí giới trai.
Lục Ba La Mật quảng khai,
Làm nhiều công đức chẳng sai một thì,
Khi thọ mạng chí kỳ viên mãn,
Có tôi và các hạng Tăng lành.
Phóng quang tiếp dẫn vãng sanh,
Đặng làm Bồ tát tại thành Lạc ban.

NGUYỀN HĂM TÁM : Thiên, Nhơn vũ trụ,
Nghe danh tôi sắm đủ bỉ bàng,
Hương hoa đăng chúc huy hoàng,
Tràng phan, bảo cái cúng dường Như Lai.
Tạo Tháp, Tự, trì trai thanh tịnh,
Làm việc lành tâm định tưởng tôi.
Tưởng luôn trọn một ngày thôi,
Chắc là sẽ đặng nước tôi về liền.

NGUYỀN HĂM CHÍN : Nhơn, Thiên mười cõi,
Nếu dốc lòng ra khỏi bến mê.
Hiệu tôi thập niệm chuyên bề,
Lâm chung sẽ đặng sanh về Lạc bang
Trừ những kẻ hung tàn hỗn tạp,
Cùng những người Phật pháp dễ khinh
Ai mang tội ấy vào mình,
A Tỳ địa ngục thọ hình chung thân.

NGUYỀN BA MƯƠI : Thiên, Nhơn cầm thú
Trong thập phương vũ trụ khôn lường.
Trước đà tạo tội thường thường
Sau nghe danh Phật tỏ tường cung khai.
Cầu sám hối, trì trai, giới sát,
Nguyền làm lành, nước Phật mông sanh.
Lâm chung sẽ đặng công lành.
Khỏi tam đồ khổ hoá sanh liên đài.

NGUYỀN BA MỐT : Tiên, Người mười cảnh,
Nghe danh tôi đảnh lễ theo về.
Vui mà tu hạnh Bồ đề,
Người người cung kính, kiêng nề tán dương

NGUYỀN BA HAI : thập phương thế giới,
Những đàn bà con gái chán đời.
Phát tâm tín niệm danh tôi,
Thân sau tránh khỏi phục hồi nữ nhơn.

NGUYỀN BA BA : chúng dân mới tới,
Quả vô sanh bất thối chứng liền
Lại còn quả Phật đoàn viên,
Ngoại trừ những vị bổn nguyền độ sanh
Tôi sẽ giúp cho thành sở mộ.
Tới tha phương tế độ hàm linh.
Hạnh tu Bồ tát rất tinh,
Lại còn thấy sức oai linh hộ truyền.
Cho người ấy tinh chuyên tiến bộ,
Cùng chúng sanh tín thọ pháp huyền
Bồ đề, tịch diệt, Phổ Hiền,
Tấn thêm Tối thắng cần chuyên thi hành.

NGUYỀN BA BỐN : dân lành trong nước
Độ chúng sanh, dùng đủ mọi phương.
Ước nguyền sẽ đặng như lòng,
Bao nhiêu ác nghiệp ba đường khỏi mang.

NGUYỀN BA LĂM : các hàng Bồ tát,
Muốn cúng dường chư Phật đâu đâu,
Hoa hương, anh lạc, trân châu,
Liền đi khắp đủ, vừa hầu bữa ăn.

NGUYỀN BA SÁU : muôn ngàn báu vật,
Muốn cúng dường chư Phật Thánh Hiền,
Ước ra thì có đủ liền,
Cúng dâng khắp cả về miền chưa trưa.

NGUYỀN BA BẢY : ai vừa đọc tụng,
Hoặc thọ trì phụng cúng chư kinh,
Đặng tài biện luận thông minh,
Lại thêm Bát Nhã, trí lành cao siêu.

NGUYỀN BA TÁM : giảng điều pháp lý,
Đủ viên thông, đầy trí huệ tâm,
Nghĩa kinh cùng với Pháp âm
Dẫu rằng vi diệu cao thâm đều cùng.

NGUYỀN BA CHÍN : quốc trung Bồ tát,
Thảy thảy đồng dõng bạt kiên cần.
Mỗi người đều đặng kim thân,
Ba hai tướng tốt đủ phân sắc màu.
Thuyết các Pháp gồm thâu đạo Phật,
Cũng in như chư Phật đương thời.

NGUYỀN BỐN MƯƠI : Nước của tôi.
Hoàn toàn tinh sạch, chiếu soi một màu.
Chư Bồ tát ví như muốn thấy,
Cõi Phật nào là thấy chằng ngoa,
Dòm trong bửu thọ hiện ra,
Cảnh nào Phật nấy như là soi gương.

NGUYỀN BỐN MỐT : mọi đường công đức,
Bồ tát nào chưa được hoàn toàn,
Đặng nghe, đặng thấy đạo tràng,
Bề cao cho đến bốn ngàn Na do.

NGUYỀN BỐN HAI : các đồ nhật dụng,
Quốc độ tôi thiệt đúng tinh minh.
Chói ngời hình sắc đẹp xinh,
Dầu thiên nhãn chẳng nhìn hình đặng đâu.

NGUYỀN BỐN BA : ai ai trong nước.
Chỉ mong cầu nghe được Pháp, Kinh.
Tự nhiên sở Nguyện đắc thành,
Không chờ mời thỉnh thường tình thế gian.

NGUYỀN BỐN BỐN : Thanh Văn, Duyên Giác,
Trong nước tôi đều đắc oai thần.
Hào quang tỏ rạng vô ngần,
Biện tài thuyết pháp ngang phần Pháp Vương.

NGUYỀN BỐN LĂM : tha phương Bồ tát,
Nghe danh tôi, tấn phát phụng hành
Thảy đều đặng phép tịnh thanh,
Định thần giải thoát phước lành thưởng ban.
Như ai muốn cúng dường Phật, Pháp
Trong một đời đi khắp Hà sa.
Tuy là đường sá rất xa.
Định thân không lạc Thiền na chẳng lìa.

NGUYỀN BỐN SÁU : Chư tôn Bồ tát,
Ở tha phương nghe đạt danh tôi,
Quy y tinh tấn vừa rồi,
Định thiền bình đẳng phục hồi bổn nguyên,
Đắc pháp Nhẫn lên ngôi Chánh giác
Đặng thấy thương các bậc Như Lai.

NGUYỀN BỐN BẢY : như vầy,
Tha phương Bồ tát về đầy nước tôi.
Hướng đạo cả tâm hồi bất nhị ,
Chẳng thối lui địa vị cao sâu.

NGUYỀN BỐN TÁM : báu mầu.
Tha phương Bồ tát khấu đầu quy y.
Chư vị ấy đắc kỳ sở Nguyện,
Nhất, Nhị, Tam, Nhẫn Thiện Pháp Vương.
Pháp môn của Phật khôn lường,
Thập phương vững trụ dẫn đường chúng sinh
Khi Pháp Tạng Nguyện xong bốn tám,
Cõi tam thiên sáu món rung rinh.
Hương hoa đổ xuống đầy thành
Hư không phát tiếng chắc thành Như lai.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

http://www.tangthuphathoc.net/tinhdo/48dainguyencuaducphatadida.htm

48 Đại Nguyện Của Đức Phật A Di Đà
Trích Trong Kinh Vô Lượng Thọ
1. Lúc tôi thành Phật, nước tôi còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
2. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sau khi mạng chung còn trở lại ba ác đạo thì tôi chẳng lấy ngôi chán giác.
3. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều thân màu vàng ròng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
4. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sắc thân chẳng đồng có kẻ xấu người đẹp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
5. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng biết túc mạng, tối thiểu là biết sự việc trong trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
6. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhãn, tối thiểu là thấy trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
7. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhĩ, tối thiểu là nghe lời thuyết pháp của trăm ngàn ức na do tha chư Phật và chẳng thọ trì hết, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
8. Giả sư khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được tha tâm trí, tối thiểu là biết tâm niệm của chúng sanh trong trăm ngàn ức na do tha cõi nước, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
9. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thần túc, tối thiểu là khoảng một niệm qua đến trăm ngàn ức na do tha nước Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
10. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi nếu sanh lòng tưởng nghĩ tham chấp thân thể thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
11. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn ở nước tôi, chẳng an trụ định tụ quyết đến diệt độ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
12. Lúc tôi thành Phật, quang minh có hạn lượng, tối thiểu chẳng chiếu đến trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
13. Lúc tôi thành Phật, thọ mạng có hạn lượng, tối thiểu là trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
14. Lúc tôi thành Phật, hàng Thanh Văn trong nước tôi mà có người tính đếm được, nhẫn đến chúng sanh trong cõi Ðại Thiên đều thành bực Duyên Giác cùng nhau chung tính đếm suốt trăm nghìn kiếp mà biết được số lượng ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
15. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi thọ mạng không ai hạn lượng được, trừ họ có bổn nguyện dài ngắn tự tại. Nếu chẳng như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
16. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi mà cón nghe danh từ bất thiện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
17. Lúc tôi thành Phật, mười phương vô lượng chư Phật chẳng đều ngợi khen xưng tụng danh hiệu của tôi thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
18. Lúc tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi nhẫn đến mười niệm, nếu không được sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
19. Lúc tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương phát tâm Bồ đề tâm, tu các công đức chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước tôi. Lúc họ mạng chung, tôi và đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt họ. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
20. Lúc tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương nghe danh hiệu của tôi, chuyên nhớ nước tôi, trồng những cội công đức, chí tâm hồi hướng muốn sanh về nước tôi mà chẳng được toại nguyện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
21. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều đầy đủ ba mươi hai tướng đại nhơn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
22. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi nước khác sanh về nước tôi rốt ráo tất cả đến bực nhứt sanh bổ xứ. Trừ người có bổn nguyện tự tại hóa độ, vì chúng sanh mà mặc giáp hoằng thệ chứa công đức độ tất cả, đi qua các nước Phật tu hạnh Bồ Tát, cúng dường chư Phật mười phương, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh khiến họ đứng nơi đạo chánh chơn vô thượng, vượt hơn công hạnh của hạng tầm thường, hiện tiền tu công đức Phổ Hiền. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
23. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi thừa thần lực Phật đi cúng dường chư Phật, khoảng bữa ăn nếu không đến khắp vô số vô lượng ức na do tha cõi nước thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
24. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi ở trước chư Phật hiện công đức mình, nếu những thứ dùng để cúng dường không có đủ theo ý muốn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
25. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng thể diễn nói nhứt thiết trí thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
26. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng được thân Kim Cương Na la diên thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
27. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn và tất cả vạn vật trong nước tôi trang nghiêm thanh tịnh sáng rỡ hình sắc đặc biệt lạ lùng vi tột diệu không ai lường biết được, dầu là có thiên nhãn mà biện biệt được danh số ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
28. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi, nhẫn đến người công đức ít nhứt mà chẳng thấy biết đạo tràng thọ màu sáng vô lượng cao bốn trăm muôn dặm thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
29. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi nếu đọc tụng thọ trì diễn thuyết kinh pháp mà chẳng được trí huệ biện tài thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
30. Lúc tôi thành Phật, trí huệ biện tài của Bồ tát trong nước tôi mà có hạn lượng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
31. Lúc tôi thành Phật, nước tôi thanh tịnh soi thấy tất cả vô lượng vô số bất khả tư nghị thế giới chư Phật mười phương, như gương sáng soi hiện hình gương mặt, nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
32. Lúc tôi thành Phật, từ mặt đất lên đến hư không, những cung điện, lâu đài, ao nước, cây hoa, tất cả vạn vật trong nước tôi đều dùng vô lượng châu báu, trăm ngàn thứ hương hiệp lại làm thành xinh đẹp kỳ lạ hơn hàng thiên nhơn. Hương ấy xông khắp vô lượng thế giới mười phương. Bồ Tát nghe mùi hương ấy đều tu hạnh Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
33. Lúc tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương, được quang minh tôi chiếu đến thân, thân họ nhu nhuyến hơn hẳn hàng thiên nhơn. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
34. Lúc tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi mà chẳng được Bồ Tát vô sanh pháp nhẫn các thâm tổng trì thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
35. Lúc tôi thành Phật, hàng nữ nhơn của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi vui mừng tin ưa phát tâm Bồ đề nhàm ghét thân người nữ, nếu sau khi chết mà họ còn sanh thân người nữ lại thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
36. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong vô lượng bất tư nghì thế giới mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi sau khi thọ chung thường tu phạm hạnh đến thành Phật đạo. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
37. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn trong vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi rồi năm vóc gieo xuống đất cúi đầu vái lạy vui mừng tin ưa tu hạnh Bồ Tát thì được chư Thiên và người đời đều kính trọng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
38. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi muốn được y phục liền tùy nguyện hiện đến, y phục đẹp đúng pháp như Phật khen ngợ tự nhiên mặc trên thân. Nếu còn phải may cắt nhuộm giặt thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
39.Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi hưởng thọ khoái lạc chẳng như bực lậu tận Tỳ Kheo thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
40. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát nước tôi tùy ý muốn thấy vô lượng nước Phật trang nghiêm thanh tịnh mười phương thì liền được toại nguyện, đều được soi thấy ở trong những cây báu, như thấy mặt mình hiện rõ trong gương sáng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
41. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, từ đó đến lúc thành Phật nếu các căn thân còn thiếu xấu chẳng được đầy đủ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
42. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được thanh tịnh giải thoát tam muội, khoảng một lúc phát ý, cúng dường vô lượng bất khả tư nghị chư Phật Thế Tôn, mà không mất tâm chánh định. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
43. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, sau lúc thọ chung sanh nhà tôn quý. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
44. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi vui mừng hớn hở tu hạnh Bồ Tát đầy đủ cội công đức. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
45. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được phổ đẳng tam muội, an trụ trong tam muội nầy đến lúc thành Phật thường thấy vô lượng bất khả tư nghị tất cả chư Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
46. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở trong nước tôi tùy chí nguyện của mỗi người muốn được nghe pháp liền tự nhiên được nghe. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
47. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đến bực bất thối chuyển thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
48. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đệ nhứt nhẫn, đệ nhị nhẫn và đệ tam pháp nhẫn, nơi các Phật pháp chẳng liền được bực bất thối chuyển thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới
Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật

Nói tóm lại, Đức Phật A Di Ðà, với 48 đại nguyện, có công đức của Ngài rất rộng lớn, bởi do lòng đại bi đại nguyện lợi tha. Ngài đành bỏ tất cả ngôi sang cao quí, nguyện tu hành khi thành Phật, ở trên một cảnh giới huy hoàng trang nghiêm, để tiếp độ chúng sanh. Trải qua một thời gian được kết quả, y báo, chánh báo xuất hiện rực rỡ như lời Ngài đã thệ nguyện
Trở lại việc Tìm hiểu sự lâm chung cho đến mai táng cúng kiến như thế nào? Xin văn tắt ngắn gọn như sau :
Nếu gặp người đang bị bịnh nặng, trong tương lai sẽ lâm chung, thân nhân nên dọn dẹp giường bịnh cho khang trang và thay quần áo cho người bịnh thật sạch sẽ, đặc biệt, đặt bàn có bông hoa cúng Phật, rồi cung thỉnh quý Ngài Tôn Đức Tăng Ni, (nếu có thêm ban hộ niệm càng tốt), để tụng kinh Cầu An và Sấm Hối cho người bịnh.
Ngoài ra, nên nhắc nhở người bịnh luôn luôn niệm : bởi vì, thời gian này sức khỏe rất yếu, chỉ có thể nghe kinh và không thể đọc kinh được.
Trong thời gian người bịnh đang lâm chung, các thân nhân không nên bi ai khóc lóc, mà nhứt tâm cùng quý Tăng Ni, ban hộ niệm Chùa để tụng Lễ Vía A Di Đà và kinh A Di Đà.
              Nhân đây, xin trich dẫn tiêu biểu trong quyển Nghi Thức Tụng Niệm như sau : Bạt nhứt thế nghiệp chướng căn bản đắc sanh Tịnh Độ Đà La Ni :
HỒI HƯỚNG VÃNG SANH
Nguyện sanh Cực Lạc cảnh Phương Tây, chín phẩm hoa Sen là Cha Mẹ, Hoa nở thấy Phật chứng vô sanh, Bồ Tát bất thối là bạn hữu.

TỰ QUY Y và ĐÀNH LỄ
Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng.
Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ kinh tạng trí tuệ như biển.
Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại.
HỒI HƯỚNG
Công đức sám hối khó nghĩ lường,
Vô biên thắng phước đều hồi hướng
Khắp nguyện chúng sanh trong pháp giới.
Đều được vãng sanh Cực Lạc

NGHI THỨC CẦU SIÊU
Nguyện tận hư không biến pháp giới, quá hiện vị lai chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trú Tam Bảo, tiếp độ hương linh vãng sanh Cực Lạc Quốc.
Nguyện Ta bà Giáo chủ đại từ đại bi Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương lai hạ sanh Di Lạc tôn Phật, Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Linh sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát, tiếp độ hương linh vãng sanh Cực Lạc Quốc.
Nguyện Tây phương Giáo chủ đại từ đại bi tiếp dẫn Đạo sư A Di Đà Phật, Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại hải chúng Bồ Tát, tiếp độ hương linh vãng sanh Cực Lạc Quốc.
Quy mạng lễ A Di Đà Phật,
Ở phương tây thế giới an lành,
Con nay xin phát nguyện vãng sanh,
Cúi xin đức Từ Bi tiếp độ :
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc
Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn
Đạo Sư A Di Đà Phật

Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát
Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát...
Khi người bịnh đã lâm chung, thân nhân trong gia đình nên cẩn thận thăm dò thân thể người chết, đợi thấy chết hẳn mới tiến hành thủ tục tắm rửa thay quần áo để tẩn liệm, thông thường đầu người chết quay vào nhà, hai chân đưa ra sân nhà, để người chết sẽ ra đi được chôn cất về hướng Tây tại nghĩa trang (địa) hay đem đi hỏa thiêu, không thể trở lại nhà được.
Đó là, quan niệm người xưa ở Việt Nam, khi đất đai còn nhiều để chôn cất, xây lập nhà mồ rộng rãi, còn ngày nay, thì việc chôn cất vì đất đai rất hạn hẹp, đôi khi chôn cất phải chồng lầu và có thời gian mướn hạn định, chớ không vĩnh cửu được.
Kế đến, làm tuần cúng kiến cho người chết 7 thất (tuần lễ) liên tục để cầu siêu hương hồn vong linh người quá vãng. Người xưa quan niệm khi người lâm chung, thần thức sẽ xuất khỏi thân thể tùy theo nghiệp lực để đi đầu thai, có thể tức thời, cho đến tối đa 7 tuần lễ. Bởi vì, con người có Thất phách là 7 vía (ba hồn 7 vía). Một đặc điểm dáng lưu ý, trên gương mặt mọi người đểu có có 7 khiếu là : 2 mắt, 1 miệng, 2 tai và 2 mũi, cho nên phải làm lễ 7 tuần thất.
Hơn nữa, chúng ta còn thấy con số 7 là con số tối đa của nguyên số thuộc thiên là số dương.
Do vậy, con số 7 tượng trưng cho sự sinh hóa cả vũ trụ, ngay cả sự sống chết của con người như lập đàn Dược Sư Thất Bảo để cầu an hay tổ chức thất thất trai tuần (49 ngày) để cầu siêu cũng dùng đến nó. (kính xin quý bậc cao kiến bổ khuyết thêm cho đầy đủ hơn, chân thành cảm ơn)
Nhân nhắc đến người lâm chung tùy theo nghiệp lực để đi đầu thai tức thời, bởi vì, người viết đã xem dĩa VCD do giảng sư Hòa Thượng Thích Giác Hạnh, một vị cao tăng danh tiếng đã thuyết giảng từ tốn, mạch lạc và rất rõ ràng, Ngài trọng kính quý vị Phật tử tham dự trong khóa tu Phật thất, kỳ 54 (27/04/2009) tại chùa Hoằng Pháp, không khác sinh viên trong giảng đường của viện đại học có hàng ngàn sinh viên đến tham dự, xin trân trọng kính ngưỡng mộ và cảm ơn Ngài đã giải thích tường tận để học hỏi thêm : .
Một bằng chứng khác nữa, Sư cô Thích Nữ Hạnh Châu chùa Viên Giác Đức Quốc, đã thuận thế vô thường ra đi trong trạng thái vãng sanh Tây phương cực lạc vào lúc 15 giờ ngày 05 tháng 09 năm 2009 nhằm ngày 17 tháng 07 năm Kỹ Sửu với thế thọ 90 tuổi, hạ lạp 14 và xuất gia niên lạp 22. (xin mời xem Dự Tri Thời Chí của Hòa Thượng Thích Như Điển, báo Viên Giác 176 tháng 04 năm 2010 từ trang 10 đến trang 14, để biết thêm chi tiết).
Xuyên qua những dẫn chứng nêu trên, khi người lâm chung, tu theo Pháp môn Tịnh Độ, đã nhất tâm niệm Phật A Di Đà để cầu vãng sanh Tây phưong Cực Lạc, thông thường biết thời gian lâm chung, trên trời đôi khi có những hiện tượng đặc biệt xuất hiện như mưa rơi hạt lớn, nắng đẹp bất chợt hoặc có cầu vòng ngũ sắc, đôi khi ban đêm có nhiều chùm sao giống hoa cái và hương linh thường được quý Chư Phật, Thánh Chúng đến vây quanh đón rước vãng sanh Tây phương cực lạc A Di Đà.
Mặt khác, trong dĩa VCD do Hòa Thượng Thích Trí Quảng, là một danh tăng, đã tốt nghiệp Tiến Sĩ Phật Học tại Đại học Rissho, Tokyo, Nhật Bản năm 1971, thuyết giảng đề tài Khai Thị trong khóa tu Phật thất, kỳ 43 tại chùa Hoằng Pháp, Ngài không khác một giảng sư đại học, không bao giờ xưng Thầy và gọi quý vị Phật tử là Con bao giờ, để giải thích việc tu tập theo Pháp môn Tịnh Độ rất rõ ràng và tường tận để cho quý vị Phật tử xa gần tham dự trực tiếp khóa tu tập Phật thất hoặc những ai có dịp xem dĩa VCD này sẽ lãnh hội dễ dàng, xin trân trọng thành kính cảm ơn Ngài đã ban lời thuyết giảng rất hữu ích để học hỏi, đặc biệt Ngài khuyên mọi người tu tập phải nhất tâm niệm Phật để hướng cái tâm của mình đến thế giới Tây phương Cực Lạc và không nên để cái tâm của mình ở thế giới ta bà này, cho nên, việc niệm Phật để hướng cái tâm, chớ đâu để phô trương cho mọi người cận kề biết, đôi khi làm phiền người khác, mà phải niệm Phật thật lớn để biểu dương như tôi đã xem dĩa VCD....
Nhân đây, xin thành kính cảm ơn Thượng Tọa THÍCH CHÂN TÍNH, trụ trì Chùa Hoàng Pháp đã tổ chức các khoá tu Phật thất vừa qua, có quý vị tôn túc khắp nơi vân tập về thuyết giảng các đề tài khác nhau rất giá trị và còn thực hiện các dĩa VCD để phổ biến rộng rãi, nhờ vậy biết được sanh hoạt Chùa Hoàng Pháp và các bài thuyết giảng của Ngài rất hữu ích, đặc biệt, Ngài có lối thuyết giảng như một giảng sư đại học và lúc nào cũng có nụ cười hoan hỉ đúng lúc.
Để kết thúc bài này xin mượn bài Biết đủ sẽ đủ như sau :

 

Biết đủ sẽ đủ
Các bình chậu hủ đựng lủ khủ,
Biết dùng chúng nó đời sẽ đủ,
Không tranh đủ thiếu được an ngủ,
Vui sống mọi người trong hoàn vủ.

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
 

Tiểu Đệ

 

Par phusi.over-blog.org
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Dimanche 12 septembre 2010 7 12 /09 /Sep /2010 09:15

 

NGUY CƠ MẤT NƯỚC VÀ MẤT DÂN TỘC VIỆT NAM

[bài thuyết trình tại Đại Hội Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Nam Cali]

 

Cựu Thẩm Phán Phạm Đình Hưng

 

     Tình hình đất nước Việt Nam hiện nay vô cùng bi đát về mọi mặt. Dưới
quyền cai trị độc tài chuyên chính và toàn trị của đảng Cộng sản Việt
Nam từ 34 năm nay, nước Việt Nam thống nhứt hiện là một trong 10 nước
nghèo nhứt trên thế giới và đang tự nguyện đưa đầu vào ách thống trị
của Trung Quốc.

Hôm nay, tôi xin nói về một chủ đề nóng bỏng. Đó là Nguy Cơ Mất Nước
và Mất Dân Tộc Việt Nam đang ló dạng trên quê hương thân yêu của chúng
ta. Mới đây, trong một cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Đinh Quang Anh
Thái, ông Hà Sĩ Phu Nguyễn Xuân Tụ ở Đà Lạt cũng đã nói lên nguy cơ
“Mất nước và Mất dân toc”^. giống như tôi.

(Đinh Quang Anh TháiNgưới Việt, “Mất dân tộc còn tệ hơn mất nuớc”+,
Người Việt số 8616 ngày 10 tháng 7, 2009, California, Hoa kỳ).

Nội dung bài thuyết trình của tôi hoàn toàn căn cứ vào các sự kiện cụ
thể, các sách báo đứng đắn, các sử liệu chính xác và các nguồn tin khả
tín của Trung Quốc.

Ngay từ năm 1962, chánh trị gia Ngô Đình Nhu, Cố vấn chánh trị của cố
Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã có một nhận định chính xác về tương lai
của nước Việt Nam. Trong quyển sách biên khảo rất công phu tựa đề
“Chánh Đề Việt Nam”, tác giả Ngô Đình Nhu đã khẳng định rằng trong
cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt giữa Bắc Việt cộng sản (nước Việt Nam
Dân Chủ Cộng Hoà) và Miền Nam tự do (nước Việt Nam Cộng Hoà), nếu Bắc
Việt thắng thì cả nước Việt Nam sẽ lệ thuộc Trung Quốc. Lời tiên đoán
nầy của nhà chánh trị Ngô Đình Nhu ngày nay đã trở thành một sự thật
đau lòng cho tất cả người Việt, ở trong nước và ngoài nước.

I- Nguyên nhân sâu xa của hai cuộc chiến tranh Việt Nam

Hai cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài 30 năm từ 1945 đến 1975 đã xảy
ra trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh (Cold War) giữa Thế giới Tự do và hệ
thống các nước xã hội chủ nghịaThẽo tác giả Ngô Đình Nhu, nguyên nhân
sâu xa của hai cuộc chiến tranh thảm khốc nầy là sự xung đột lâu đời
của nước Nga với các nước Tây Âu và sự thù hận của Trung Quốc đối với
các nước trong bác quốc liên quân đã tấn công và xâu xé nước Trung Hoa
trong thế kỷ 19. Thua kém các nước Tây Âu và Bắc Mỹ về mặt khoa học kỹ
thuật, hai đế quốc cộng sản Liên xô và Trung Quốc đã lợi dụng chủ
nghĩa cộng sản của hai người Đức ở Tây Âu (Karl Marx và Frederic
Engels) như một phương tiện để đánh phá các nước Tây phương từ trong
nội bộ của các nước tư bản và từ các thuộc địa của các nước nầy ở châu
Á và châu Phi.

Riêng tại Việt Nam, Liên xô và Trung Quốc đã sử dụng một cán bộ cộng
sản đệ tam quốc tế từ năm 1924 là Hồ Chí Minh để tiến hành chiến tranh
đánh phá Pháp và Hoa Kỳ nhằm mục đích bành trướng chế độ cộng sản trên
khắp ba nước Đông Dương và Đông Nam Á. Hai cuộc chiến tranh gọi là
“giải phóng dân toc”^. và “thống nhứt đất nuớc”+ thật sự là hai cuộc
chiến tranh “uỷ nhiem”^. do hai đế quốc cộng sản Nga-Hoa chỉ đạo và viện
trợ vì quyền lợi của họ. Trong hai cuộc chiến tranh Việt Nam, vai trò
và ảnh hưởng của Trung Quốc lớn hơn Liên xô vì các lý do sau đây:

1) Giáp giới Việt Nam, Trung Quốc là một đại quốc luôn luôn có tham
vọng xác lập địa vị mẫu quốc đối với Việt Nam. Nhưng Trung Quốc đã mất
ảnh hưởng đối với Việt Nam từ giữa thế kỷ 19. Giúp đỡ cho đảng Cộng
sản Việt Nam tiến hành chiến tranh sau đệ nhị Thế chiến tức là giúp đỡ
cho Trung Quốc tái lập ảnh hưởng đối với Việt Nam.

2) Để tránh đụng chạm với Pháp, Liên xô từ 1945 đến 1950 đã không công
nhận chánh quyền Hồ Chí Minh; Josef Stalin năm 1951 chỉ đồng ý cho
Trung Quốc viện trợ đảng Cộng sản Việt Nam đánh Pháp nhưng từ chối
viện trợ trực tiếp cho Hồ Chí Minh. Trái lại, ngay sau khi thống nhứt
nước Trung Hoa năm 1949, Mao Trạch Đông đã lập tức công nhận chánh
quyền Hồ Chí Minh năm 1950 và viện trợ dồi dào cho đảng Cộng sản Việt
Nam về võ khí, lương thực, thuốc men, nhân lực (cố vấn chánh trị, cố
vấn quân sự, binh sĩ) và huấn luyện đào tạo các cấp chỉ huy Việt Minh
Viện trợ quân sự của Trung Hoa đã “giải toả Việt Minh khỏi vòng vây
của quân đội Phap”'. Giải phóng quân Trung Quốc còn chủ động tham gia
các trận đánh lớn ở Đông Khê, Thất khê và Điện biên phủ dưới quyền chỉ
huy của hai tướng Trần Canh và Vi Quốc Thanh. Chiến thắng Điện biên
phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954 đã giúp cho đảng Cộng sản Việt Nam chiếm
được nửa nước Việt Nam.

(Xem tập tài liệu “Ghi Chép Thực Về Việc Đoàn Cố Vấn Quân Sự Trung
Quốc Viện Trợ Việt Nam Chống Phap”', Nhà Xuất bản Lịch sử Đảng Cộng sản
Trung Quốc, Bắc kinh, 2002)

Trong cuộc chiến tranh gọi là “chống Mỹ, cứu nuớc”+ từ năm 1956 đến năm
1975, Trung Quốc đã tăng cường viện trợ vô cùng hùng hậu cho Bắc Việt
cộng sản về phương tiện chiến tranh và chuyên viên phòng không, đồng
thời cho quân Tàu trú đóng tại các tỉnh biên giới Viet-Trung^. để gìn
giữ an ninh lãnh thổ giúp cho quân đội Bắc Việt điều động xuống chiến
trường miền Nam Việt Nam. Liên xô chỉ viện trợ (có hoàn lại) cho Bắc
Việt một số võ khí nặng ( phi cơ, chiến xa, đại pháo) trị giá 10 tỷ đô
la.

3) Từ khi từ Moscowa về Diên An (thủ đô của Hồng quân Trung Quốc) năm
1938 đầu quân Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh đã tận tình phục vụ Trung
Quốc nhiều hơn Liên xô vì Ông ta đã bị thất sủng trong một thời gian
dài từ 1932 đến 1938 và suýt bị Stalin giết chết năm 1935. Theo tiết
lộ của một nhân vật Tình báo Tàu trong một cuộc họp mật giữa Tổng Cục
Tình báo Hoa Nam và Tổng Cục 2 Việt Nam, Hồ Chí Minh đã gia nhập đảng
Cộng sản Trung Quốc. Khi trở về hoạt động tại Hoa Nam và trong hang
Pác Bó ở tỉnh Cao Bằng, ông Hồ đã thi hành công tác của một đảng viên
do đảng cộng sản Trung Quốc giao phó. Ngoài viên chánh uỷ Tổng Cục
Tình báo Hoa Nam, một nhân vật cao cấp trong phái đoàn thương thuyết
của Trung Quốc về ranh giới mới trên đất liền và biển cả giữa Trung
Quốc và Việt Nam còn đe doạ Trung Quốc sẽ công bố các cam kết bí mật
của Hồ Chí Minh với đảng Cộng sản Trung Quốc để làm tiêu tan sự nghiệp
(legacy) của Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam

II – Tham vọng bá quyền của Trung Quốc và các hành động bán nước của
đảng Cộng sản Việt Nam

Từ ngàn xưa, Hán tộc luôn luôn nuôi tham vọng bành trướng xuống phía
Nam và tìm đường đi ra biển từ hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây. Nhưng họ
đã vấp phải sự đối kháng mãnh liệt và hữu hiệu của dân tộc Việt Nam,
một dân tộc thông minh và kiêu dũng trong dòng Bách Việt ở phía Nam
sông Dương Tử đã bẻ gãy tất cả các cuộc xâm lăng võ trang từ phương
Bắc để bảo tồn độc lập của nước Việt Nam.

Trước tham vọng bành trướng xuống phía Nam của Trung Quốc hiện nay,
Việt Nam là nạn nhân đầu tiên của thiên triều Bắc kinh. Từ xưa đến
nay, người Tàu luôn luôn xem nước Việt Nam là một quận, huyện của
Trung Quốc. Trải qua 2000 năm lịch sử, nước Việt Nam chúng ta đã phải
hứng chịu nhiều đau khổ và tũi nhục trong 1000 năm Bắc thuộc trước khi
Ngô Quyền tranh thủ được nền độc lập của nước nhà năm 938. Tổ tiên
chúng ta đã bao lần anh dũng chống ngoại xâm từ phương Bắc để gìn giữ
độc lập của nước nhà và duy trì sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt
Nam. Tinh thần quốc gia dân tộc của tổ tiên chúng ta rất vững mạnh và
kiên cường. Thành tích giữ nước vẻ vang của Lý Thường Kiệt, Trần Hưng
Đạo, Lê Lợi và Quang Trung Nguyễn Huệ đã nhắc nhở người Việt Nam chúng
ta đương thời nhiệm vụ chiến đấu để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia
và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam chống lại âm mưu thôn
tính của Trung Quốc với sự tiếp tay của bọn tay sai bán nước là đảng
Cộng sản Việt Nam.

Trong thời đại ngày nay, Trung Quốc đã áp dụng một chiến lược thôn
tính Việt Nam rất tinh vi và hiểm độc. Để thực hiện dễ dàng tham vọng
bành trướng xuống phía Nam của Trung Quốc, người Tàu cần phải phá tan
tinh thần đoàn kết của người Việt Nam và tiêu diệt sinh lực của dân
tộc Việt. Nhằm mục đích thâm độc nầy, đảng Cộng sản Trung Quốc đã sai
khiến Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam liên tục tiến hành chiến
tranh trong 30 năm để tàn phá nặng nề đất nước Việt Nam, giết chết cả
chục triệu người dân Việt và chia rẽ dân tộc Việt về ý thức hệ, thành
phần giai cấp, địa phương, tôn giáo và đảng phái. Cuộc xâm lăng Việt
Nam của Trung Quốc đã thật sự bắt đầu từ năm 1950 với kế hoạch viện
trợ cho Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Viêt Nam đánh Pháp để chiếm đoạt
quyền lãnh đạo quốc gia. Trong thời gian viện trợ cho Việt Cộng gây
nội chiến dưới chiêu bài đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Trung
Cộng đã có đủ thời giờ điều nghiên các vị trí chiến lược trọng yếu của
Việt Nam và bố trí cán bộ gốc Hoa và thân Tàu vào các chức vụ chỉ huy
trong Quân đội, Công an, Tình báo, bộ máy Nhà nước và các cấp uỷ đảng
để sẵn sàng thực hiện âm mưu thôn tính Việt Nam. Đồng thời với việc âm
thầm chỉ đạo Đảng và Nhà nước cộng sản Việt Nam, Trung Quốc đã áp dụng
chiến lược “Diễn Biến Hoà Binh”` để từng bước lấn chiếm lãnh thổ Việt
Nam thay vì sử dụng võ lực tấn công ồ ạt như đã làm trong quá khứ. Với
sự hợp tác tự nguyện của Hồ Chí Minh, hậu duệ của ông ta và tập đoàn
lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam, kế hoạch tầm ăn dâu nầy của Trung
Quốc đã đạt nhiều kết quả trong âm mưu đô hộ Việt Nam. Theo lịnh của
Trung Quốc, Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam đã đả kích chủ nghĩa
quốc gia dân tộc là cục bộ địa phương cần phải gạt bỏ và thay thế bằng
chủ nghĩa quốc tế đại đồng. Để phục vụ thiên triều Bắc kinh, Hồ Chí
Minh và đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngần ngại dâng hiến quan thầy
Tàu một phần đáng kể lãnh thổ do tiền nhân chúng ta dầy công xây đắp
và bảo vệ. Các hành động bán nước kể sau của Hồ Chí Minh và đảng Cộng
sản Việt Nam cần phải được phơi bày ra trước ánh sáng để lịch sử và
các thế hệ trẻ Việt nam sanh sau năm 1975 cùng thế giới văn minh phán
xét:

1) Chuyển nhượng cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Do quyết định của Hồ Chí Minh và bộ Chánh trị đảng Cộng sản Việt Nam,
Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (miền Bắc cộng sản), Phạm văn
Đồng đã chánh thức gởi đến Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Chu Ân
Lai giác thư ngày 14 tháng 9 năm 1958 ủng hộ bản Tuyên bố ngày 4 tháng
9 năm 1958 của Trung Quốc xác định chủ quyền của nước nầy trên hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vào thời điểm nầy, hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hoà (miền
Nam tự do) vì nằm dưới vĩ tuyến 17. Khi Hải quân Trung Quốc tiến chiếm
quần đảo Hoàng Sa và bị Hải quân Việt Nam Cộng Hoà chận đánh ngày 19
tháng 1 năm 1974 để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ Việt Nam, Hà nội
đã giữ thái độ im lặng hoàn toàn. Quyết định bán nước và thái độ bàng
quang của Hà nội đã chứng minh Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam
luôn luôn đặt quyền lợi của Cộng sản quốc tế trên quyền lợi quốc gia.
Đây là hành động phản bội Tổ quốc đầu tiên của đảng Cộng sản Việt Nam
đã phạm trong thời bình để trả nợ chiến tranh cho Trung Quốc và đền
đáp ơn nghĩa của Trung Quốc đã giúp đỡ Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản
Việt Nam lên ngai vàng tại Bắc bộ phủ và ngự trị trên miền Bắc Việt
Nam sau chiến thắng Điện biên phủ nhờ sự trợ giúp của tướng Trung Quốc
Vi Quốc Thanh và pháo binh Trung Cộng. Tham vọng quyền lực đã thúc đẩy
Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam tích cực phục vụ Trung Quốc, mở
đường cho Hán tộc bành trướng xuống Đông Dương và Đông Nam Á, tiến
chiếm biển Đông (South China Sea), đặt căn cứ hải quân trên quần đảo
Hoàng Sa, khống chế con đường đi ra hải phận quốc tế của Việt Nam và
kiểm soát giao lưu hàng hải quốc tế giữa Thái bình dương và Ấn độ
dương. Quyết định chuyển nhượng âm thầm hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa cho Trung Quốc chứng tỏ đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nhân
thật sự của đất nước Việt Nam có quyền cho không hay bán một phần lãnh
thổ mà không cần phải thông báo Quốc Hội hay xin Quốc Hội phê chuẩn

Hậu quả của giác thư Phạm văn Đồng năm 1958 vô cùng trầm trọng. Hiện
nay, chúng ta không thể biết ngày nào có thể thâu hồi quần đảo Hoàng
Sa về Tổ quốc Viêt Nam. Ngày đó chỉ đến sau khi đế quốc cộng sản Trung
Hoa tan rã.

2) Cắt đất ở biên giới Viet-Hoậ dâng cho Trung Quốc

Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, đảng Cộng sản là một nhà cầm
quyền đã dám cắt một phần đất của Tổ Quốc để dâng cho ngoại bang bất
chấp luật pháp nghiêm minh của tiền nhân: trong Quốc Triều Hình Luật
do Nguyễn Trải soạn thảo có một điều khoản phạt tử hình người dân bán
đất thuộc quyền sở hữu của mình cho ngoại nhân.

Sau chuyến đi năm 1992 của bộ ba Đỗ MuơiLê+ Đức Anh-Phạm văn Đồng đến
Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, cầu hoà và dập đầu xưng thần với
thiên triều Bắc kinh, đảng Cộng sản Việt Nam đã chuẩn bị một cống phẩm
đầu tiên để lấy lòng quan thầy: dâng hiến Trung Quốc một phần đất liền
dọc theo sáu tỉnh biên giới Viet-Hoậ coi như trả một phần món nợ viện
trợ của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Việt Nam lần thứ hai để đánh
chiếm miền Nam, đào sâu thêm hận thù dân tộc và giết chết thêm cả chục
triệu người Việt Nam vô tội. Cống phẩm nầy đã được dâng lên Bắc kinh
bằng việc ký kết hiệp ước phân định lại biên giới Việt Hoa ngày
30-12-1999 theo chỉ thị của Lê Khả Phiêu, người lãnh tụ số 1 của đảng
Cộng sản Việt Nam đã bị Bắc kinh sai khiến một cách dễ dàng vì đã lở
dại sa vào mỹ nhân kế của người Tàu. Được Quốc Hội bù nhìn phê chuẩn
nhanh chóng, hiệp ước bán nước nầy đã chuyển nhượng cho Trung Quốc
trên 1,000 kí lô mét vuông đất liền ở biên giới Việt Hoa, tách rời
khỏi lãnh thổ Việt Nam một số địa danh quan trọng như phía Bắc Sa Pa,
ãi Nam Quan, thác Bản Giốc. Không màng đến trọng tội bán nước, nhà cầm
quyền Cộng sản Việt Nam đã cùng với Trung Quốc tổ chức liên hoan ăn
mừng việc hoàn thành công tác cắm cọc biên giới mới có lợi cho Trung
Quốc.

3) Phân chia lại Vịnh Bắc Việt (Golf of Tonkin)

Hiệp ước 1887 ký kết giữa đại diện Pháp quốc Patenotre và đại diện Đại
Thanh Lý Hồng Chương đã phân chia Vịnh Bắc Việt theo tỷ lệ như sau:
Việt Nam: 63%, Đại Thanh: 37%. Nhưng năm 2000, Trung Quốc đòi phân
chia lại Vịnh Bắc Việt theo tỷ lệ 5050/. Dưới tác động và ảnh hưởng
của Trung Quốc, Tổng Bí thư đảng Lê Khả Phiêu, Chủ tịch nước Trần Đức
Lương và Chủ tịch Quốc Hội Nông Đức Mạnh đã thoả hiệp ký kết hiệp ước
về Vịnh Bắc Việt ngày 25-12-2000 để đáp ứng yêu sách của Trung Quốc
nhưng chỉ muốn xin lại 6% mà thôi. Theo hiệp ước mới nầy, Việt Nam mất
14,000 kí lô mét vuông biển trong Vịnh Bắc Việt. Trước sự ngoan ngoản
của các lãnh đạo Đảng và Nhà nước cộng sản Việt Nam, Thủ tướng Chu
Dung Cơ của Trung Quốc, người thay thế Lý Bằng, thông báo sẽ chuyển
giao cho Việt Nam cộng sản 2 tỷ Mỹ kim dưới hình thức đầu tư. Số tiền
lớn nầy được Trung Quốc xem như tiền mua một phần biển của Việt Nam
trong Vịnh Bắc Việt. Một sự thật không thể chối cải là Cộng sản Việt
Nam đã bán biển cho Trung Quốc để lấy 2 tỷ Mỹ kim và đã không bảo vệ
quyền lợi của quốc gia Việt Nam bằng nhà cầm quyền thực dân Pháp. Vì
vụ bán nước lần thứ ba nầy quá lớn, Quốc Hội bù nhìn của Cộng sản Việt
Nam đã trì hoản đến năm 2004 mới âm thầm phê chuẩn hiệp ước phân định
lại Vịnh Bắc Việt. Trong khi gia tăng áp lực đối với đảng Cộng sản
Việt Nam để nhanh chóng ký kết hiệp ước bán biển trong Vịnh Bắc Việt,
Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Lý Bằng đã nhiều lần bộc lộ cảm tình
với Nông Đức Mạnh, Chủ tịch Quốc Hội Việt Nam cộng sản, và bày tỏ ý
muốn Nông Đức Mạnh sẽ là Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam. Nông Đức
Mạnh là hậu duệ của Hồ Chí Minh được Trung Quốc hậu thuẫn mạnh mẽ để
tiếp nối sự nghiệp bán nước của cha y.

4) Hợp tác đánh cá và khai thác tài nguyên của biển cả

Các cống phẩm “dâng đất biên giới, hiến biển Vịnh Bắc Viet”^. của tập
đoàn lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam vẫn chưa thoả mãn tham vọng thôn
tính Việt Nam của Trung Quốc. Bộ Chánh trị đảng Cộng sản Việt Nam lại
nhận thêm một yêu sách mới: Chuyển nhương cho Trung Quốc 22,000 (hai
mươi hai ngàn) kí lô mét vuông biển Việt Nam từ Quảng Ninh đến Quảng
Ngải dưới hình thức hợp tác đánh cá và khai thác tài nguyên của biển
cả giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam. Đáp ứng yêu cầu của Trung
Quốc, một hiệp ước thứ ba đã được bí mật ký kết năm 2000 để giao cho
Trung Quốc trọn quyền kiểm soát và khai thác biển Đông nằm trong lãnh
hải, vùng tiếp cận lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
của Việt Nam ở phía Bắc Quảng Ngải (vĩ tuyến 15). Căn cứ vào hiệp ước
nầy, Trung Quốc đã ngang nhiên cấm đánh cá trong các vùng biển của
Việt Nam, bắn giết và bắt phạt ngư dân Việt Nam vi phạm các biện pháp
hành chánh của họ, xua đuổi hai công ty British Petrolium và Exxon-
Mobile không được hợp tác với Việt Nam cộng sản thăm dò và khai thác
dầu khí trong các vùng biển của Việt Nam. Nhà cầm quyền cộng sản Việt
Nam không dám phản đối Trung Quốc để bảo vệ quyền lợi của quốc gia và
ngư dân Việt Nam.

Hiệp ước hợp tác đánh cá và khai thác tài nguyên ký kết với Trung Quốc
năm 2000 đã được nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam xem như một hợp đồng
nên khỏi cần được Quốc Hội bù nhìn phê chuẩn. Hiệp ước nầy đã mở đường
cho đế quốc cộng sản Trung Hoa chiếm hữu biển Đông và công bố bản đồ
“Lưỡi Bo”bào gồm 80% biển Đông và thu hẹp lãnh hải Viêt Nam dưới 12
hải lý.

Để chánh thức hoá sự chuyển nhượng vĩnh viễn cho Trung Quốc quần đảo
Hoàng Sa (nằm trên vĩ tuyến 17) và các vùng biển Việt Nam ở phía Bắc
vĩ tuyến 15 (Quảng Ngải), nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã
không đệ nạp Liên Hiệp Quốc hồ sơ thềm lục địa Việt Nam ở phía Bắc vĩ
tuyến 15 và tuyên bố không có tranh chấp trong vùng biển nầy (vì đã
chuyển nhượng cho Trung Quốc)

5) Hợp tác khai thác bô xít (bauxite) tại Cao nguyên Trung Phần

Dưới hình thức hợp tác khai thác bô xít để lấy Alumina, Trung Quốc đã
và đang tiến hành âm mưu xâm chiếm Cao nguyên Trung phần, một vị trí
chiến lược sanh tử của Việt Nam. Sau khi khống chế các vùng biển của
Việt Nam ở phía Đông, Trung Quốc có khả năng thành lập một khu tự trị
của người Hoa và người sắc tộc thiểu số trên Cao nguyên Trung phần ở
phía Tây và tách rời nước Việt Nam ra hai miền để làm suy yếu sức mạnh
của dân tộc Việt Nam. Kế hoạch “Diễn Biến Hoà Binh”` sẽ giúp cho Trung
Quốc thôn tính và Hán hoá Việt Nam với sự tiếp tay của tập đoàn lãnh
đạo Cộng sản Việt Nam hiện nay do Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng,
Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang cầm đầu. Dưới
sự lãnh đạo của đảng Cộng sản, Việt Nam đang đứng trước hiểm hoạ Bắc
thuộc lần thứ hai.

Hậu quả về an ninh quốc gia của vấn đề Trung Quốc khai thác bô xít
trên cao nguyên Trung phần nghiêm trọng hơn vấn đề ô nhiễm môi sinh và
nhiễm độc nguồn nước của các con sông Là Ngà, Đồng Nai, Sông Bé và Sài
gòn cung cấp nước tiêu dùng cho dân cư các tỉnh Bình Dương, Bình
Phước, Đồng Nai và thành phố Sài gòn. Hai hâu quả tai hại nầy sẽ quyết
định sự sinh tồn của đất nước và dân tộc Việt Nam. Mặc dầu có sự chống
đối của một số cựu tướng lãnh cộng sản như Đại tướng Võ Nguyên Giáp,
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và một số đông trí thức trong nước do giáo
sư Nguyễn Huệ Chi đứng đầu, đảng Cộng sản Việt Nam vẫn nhứt quyết tiến
hành dự án khai thác bauxite tại Cao nguyên Trung phần vì theo lời của
viên chánh uỷ cơ quan Tình báo Hoa Nam “tiền đã trao, cháo phải muc”'.

III - Âm mưu sáp nhập nước Việt Nam vào Trung Quốc và Hán hoá dân
tộc Việt Nam

Tham vọng thôn tính Việt Nam của Trung Quốc đã được bộc lộ rõ rệt
trong một cuộc họp mật giữa Tổng Cục Tình báo Hoa Nam và Tổng Cục 2
Việt Nam. Tài liệu mật về cuộc họp nầy đã được công bố trên Internet
và đăng tải trên nhựt báo Sài gòn Nhỏ số 226 ra ngày 03-07-2009.

Tổng kết cuộc họp, viên Chánh uỷ Tổng Cục Tình báo Hoa Nam đã nêu ra
một số ý chánh, trích dẫn nguyên văn như sau:

- Hội nghị đã “bàn về chuyện hợp nhất hai quốc gia trong tương lai”

- “Hợp kết Trung Quốc Việt Nam có thể là một mốc lịch sử vĩ đại
trên đường phát triển của tổ quoc”^'

- “Trong tình thế hiện nay, Việt Nam không còn chọn lựa nào khác,
không còn con đường nào khác hơn là trở về với Tổ quốc Trung Hoa vĩ
đai”.

- “Việc Việt Nam trở về với tổ quốc Trung Hoa vĩ đại là việc trước
sau sẽ phải đến. Không sớm thì muộn. Mà sớm thì hơn muộn. Trong lịch
sử, Việt nam từng là quận, huyện của Trung Quốc, là một nhánh của cây
đại thụ Trung Hoa”.

- “Sự lựa chọn (giữa Trung Quốc và Hoa kỳ) chỉ còn có một. Và ở
đây, các đồng chí Việt Nam tỏ ra có lựa chọn đúng. Ngày nay, Trung
Quốc vĩ đại phải dành lại vị trí đã có của mình. Có Việt Nam nhập vào,
Trung Quốc đã vĩ đại lại càng thêm vĩ đại”.

- “Trong tướng lĩnh, phần nhiều là người của ta, do ta đào tạo, cất
nhắc. Công nầy là nguyên chủ tịch Lê (tức là Lê Đức Anh), người rất
biết nhìn xa trông rong”^..

- “Tăng cường viết và nói hằng ngày, hằng giờ, biện luận cho dân
thấy cái lợi của việc sát nhap”^..

- “Một khi Việt Nam đã nhập vào Trung Quốc thì vùng Tây nguyên của
Việt Nam là của chung nước ta”.

- “Phải trấn an các cán bộ các cấp, từ trung ương đến địa phương để
họ thấy rằng sau khi hợp nhất, mọi vị trí, quyền lợi, bổng lộc của họ
không bị suy suyển. Các đơn vị hành chánh sẽ được giữ nguyên trong một
thời gian dài trước khi áp dụng mô hình hành chánh chung của toàn
quoc”^'.

- “Trong thời đại hiện nay…., sự sát nhập trở lại của Việt nam và
toàn bán đảo Đông Dương tiếp theo là điều tất yeu”^'.

- “Việc cuối cùng là mô hình quản trị Việt nam trong tổ quốc thống
nhứt. Tỉnh hay khu tự tri”..

Trong khi tổng kết hay hiểu thị, viên chánh uỷ Tàu họ Lương còn tiết
lộ hai bí mật liên quan đến Hồ Chí Minh và Nông Đức Mạnh, nguyên văn
như sau:

1) “ Trung Quốc và Việt Nam là một. Đó là chân lý đời đời. Đó cũng là
lời của Hồ đồng chí (tức là Hồ Chí Minh) trong lễ tuyên thệ gia nhập
đảng Cộng sản Trung Quốc. Hồ đồng chí tôn kính còn dạy: Trung Quốc và
Việt Nam như môi với răng. Môi hở thì răng lạnh. Có nghĩa là hai nước
là hai bộ phận trong cùng một cơ the”^?.

2) “Nông đồng chí (tức là đồng chí Nông Đức Mạnh) từng tự hào nhận
mình là người Choang (Zhuang) trong cuộc gặp gở các đại biểu trong
Quốc vụ viện. Mà dân tộc Choang là gì? Là một bộ phận của đại gia đình
các dân tộc Trung Quoc”^'.

Nông Đức Mạnh là con tư sinh của Hồ Chí Minh đã có với người nữ cán bộ
hộ lý tên Nông thị Ngác bí danh Nông thị Trưng trong thời gian ẩn trú
trong hang Pác Bó ở Cao Bằng năm 1940.

Nói tóm lại, nếu bản tổng kết cuộc họp mật giữa Tổng Cục Tình báo Hoa
Nam và Tổng Cục 2 Việt Nam sẽ được Trung Quốc thực hiện nay mai với sự
cộng tác của các Thái thú Trung Quốc trong đảng Cộng sản Việt Nam thì
nước Việt Nam sẽ bị xoá tên trên bản đồ thế giới, dân tộc Việt sẽ bị
Hán hoá và trở thành một dân tộc thiểu số trong đế quốc cộng sản Trung
Hoa giống như Tây Tạng, Mông Cổ, Mãn Châu và Hồi Cương dưới quyền
thống trị của Hán tộc. Đồng bào người Việt ở trong nước và ngoài nước
có lưu ý đến các vụ nhà cầm quyền Trung Quốc thẳng tay đàn áp và giết
người dã man đã và đang xảy ra tại Tây Tạng và Tân Cương hay không?
Đứng trước nguy cơ mất nước và mất dân tộc hiện nay, chỉ có Nhân dân
Việt Nam mới có đủ sức mạnh cứu nước và dân tộc ra khỏi đại hoạ thống
trị và đồng hoá của đế quốc cộng sản Hán tộc. Đã đến lúc toàn dân Việt
ở trong và ngoài nước phải dũng cảm đứng dậy liên kết chiến đấu đập
tan hoạ nội xâm và hoạ ngoại xâm, thành lập nền Đệ Tam Cộng Hoà Việt
Nam trên nền tảng dân chủ pháp trị để bảo vệ sự sinh tồn của Tổ quốc
và Dân tộc Việt Nam

 

PHẠM ĐÌNH HƯNG 

Par phusi.over-blog.org
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Mardi 17 août 2010 2 17 /08 /Août /2010 22:22

**

 47047d67 1

PARIS - 08 - 2010
Click for Paris, France Forecast
 Click for Los Angeles, California ForecastClick for Hanoi, Viet Nam Forecast
Paris - Los Angeles - SaiGon

 Hình ảnh
 

  

NGƯỜI BỎ TÔI ĐI
 
Người bỏ tôi đi
Còn gì ở lại
Những sáng mai buồn
Tôi ru tiếng hát
Những đêm gió hú
Tôi chốn ngục tù
Dòng sông trôi...trôi mãi một dòng
Hồn tôi khóc thương thân tượng đá
 
Người bỏ tôi đi
Nhọc nhằn câm nín
Gác vắng thì thầm sợi tóc nằm im
Ngoài kia biển rộng chẳng thấy mặt trời
 
Người bỏ tôi đi
Còn ai tri kỷ
Để tôi kể lể chuyện nắng chuyện mưa
Từ con tim tôi đôi khi khờ dại
Nhưng chân thật vô cùng
Cho khô cằn thôi là gỗ mục
Gọi Xuân về trỗ những bình minh
 
Người bỏ tôi đi
Tội nghiệp trần ai
Con suối mát bơ vơ nỗi nhớ
Hỏi vì đâu nghiệt ngã đôi bờ
Hỏi vì đâu tôi ngồi phố chợ
Chẳng thấy bóng Người thấp thoạ́ng đầu non...
 
Có còn không
Ngọn sóng tình ốc đảo
Ôm cát vàng mơ chuyện mai sau?!
Có còn không
Trong bia mộ đó
Đóa hoa hồng ấp ủ mộng trăm năm?!
 
Tôi hỏi thế chắc Người buồn lắm
Chút dỗi hờn mà thương nhớ Người ơi!
 
Kim Thành
July 2010
   

 

BÂNG QUƠ  

Em ngồi xoả tóc dáng Liêu Trai
Hong nắng bờ vai nghiêng nghiêng gầy
Bức tranh lụa thoáng thơm hương phấn
Bướm ngẩn ngơ vờn rũ cánh bay  

Cứ để cho hồn rung theo gió
Cho tình vời vợi đến trong mơ
Đừng ngăn con suối vào sông rộng
Mà nghẽn dòng xuôi nước vỡ bờ  

Tình rất đẹp khi tình lớn mạnh
Như trái cây ngon chín trên cành
Rồi chợt run run trong nắng tím
Vội vã lìa cành lặng lẽ rơi  

Khoan thai đi vào chân trời rộng
Thắp lên ngọn đuốc sáng hừng đông
Ta với đời cùng nhau nhập cuộc
Tuổi thanh xuân không đến hai lần  

Lòng hỏi lòng sao cứ héo hon
Rêu xanh phủ kín lối đi mòn
Nghe ai nức nỡ trong đêm vắng
Đâu đó bâng quơ tiếng thở dài  

tôn thất phú sĩ

 

LÒNG DÂN VÀ VẬN NƯỚC
 
Song Chi
 
 
Hồ Gươm, Hà Nội
 
Từ nhiều năm nay một trong những mối bận tâm lớn nhất của người Việt là quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Cứ mỗi khi có chuyện gì đó xảy ra trong mối quan hệ vô cùng phức tạp giữa hai quốc gia này là từ báo chí hải ngoại, các diễn đàn độc lập cho đến các trang blog cá nhân lại “nóng” hẳn lên trong khi báo chí quốc doanh hoặc im lặng hoặc nhà nước cho phép nói đến đâu thì nói đến đó!
 
Có thể kể ra hàng loạt ví dụ như vậy: vụ sinh viên học sinh Sài Gòn, Hà Nội biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa Trường Sa vào tháng 12.2007, vụ rước đuốc Olympic Bắc Kinh ngang qua Sài Gòn vào tháng 4.2008, những vụ tàu Trung Quốc bắt giữ, đánh cướp, đòi tiền chuộc các ngư dân Việt Nam, xung quanh dự án cho phép Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên hay dự án cho Trung Quốc thuê rừng đầu nguồn của một số tỉnh miền Bắc, bài viết “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc”  gây nhiều tranh cãi của bà “chuẩn bị là Tiến sĩ” Đỗ Ngọc Bích đăng trên BBC tháng 4.2010, hay gần đây là những dấu hiệu cho thấy sự trở lại của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á và châu Á nói chung đã làm cho Trung Quốc tức giận ra sao và người Việt đa số đã hồ hởi như thế nào…
 
Vì vậy không có gì lạ khi gần đây, dư luận lại “nóng” lên trước các sự kiện: Một: Bà Hillary Clinton, Ngoại trưởng Mỹ khi đến Hà Nội tham dự hội nghị khu vực ASEAN và một số hoạt động kỷ niệm 15 năm quan hệ Ngoại giao Việt Nam-Hoa Kỳ vào tháng 7.2010, đã có những lời phát biểu mạnh mẽ thách thức Trung Quốc trên hồ sơ biển Đông đồng thời cho thấy sự thay đổi trong đường lối chính sách ngoại giao của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á. Hai: trong tháng 8 vừa qua, một loạt các tàu chiến Mỹ đến thăm Việt Nam và có những hoạt động hợp tác với hải quân Việt Nam, thể hiện mối quan hệ đang phát triển theo chiều hướng tích cực giữa hai nước cựu thù. Không chỉ người Việt trong và ngoài nước mà cả báo chí khu vực, báo chí quốc tế cũng quan tâm đến những sự kiện này. Tất nhiên, thế giới quan tâm không phải vì một nước Việt Nam nhỏ bé mà vì Mỹ và Trung Quốc-bất cứ động thái nào trong mối quan hệ giữa hai cường quốc này cũng sẽ làm ảnh hưởng rất lớn, thậm chí thay đổi toàn cục thế giới. Điều đó đã từng diễn ra cách đây gần 40 năm, khi Henry Kissinger đến Bắc Kinh năm 1971 để thực hiện sứ mệnh ngoại giao thay đổi mối quan hệ Mỹ-Trung Quốc, đưa đến một loạt thay đổi trong cục diện cuộc Chiến tranh lạnh trên thế giới, cuộc chiến tranh Việt Nam lúc bấy giờ cũng như mở đường cho việc Trung Quốc mở cửa về kinh tế, góp phần định hình thế giới ngày nay. Và bây giờ, những lời phát biểu của bà Hillary Clinton cho thấy thái độ của Mỹ với Trung Quốc đã khác và Mỹ dường như vừa kịp nhận ra họ đã bỏ quên khu vực này đủ lâu để cần phải sửa sai về điều này.
 
Còn đối với người Việt Nam, rõ ràng là phải quan tâm những sự kiện này vì vận mệnh của đất nước, dân tộc.
Điều đầu tiên có thể nhận thấy đó là về phía Việt Nam, từ báo chí quốc doanh, báo chí hải ngoại cho đến ý kiến của người dân trên các trang blog cá nhân đều tỏ ra khá là đồng thuận trước sự trở lại của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á cũng như Việt Nam cần phải phát triển mối quan hệ với Mỹ và các nước tự do dân chủ nói chung.
Kể cũng lạ mà không lạ. Rằng ít nhất với một nửa dân số Việt Nam sống ở miền Bắc trước năm 1975 thì Mỹ là kẻ thù mà trong nhiều năm dài mọi người đã được giáo dục, tuyên truyền nhồi nhét đủ mọi điều xấu xa, mọi tội ác để căm thù Mỹ, trong khi mối quan hệ hữu nghị Việt Trung hay Việt Xô thì được ca ngợi hết lời. Sau năm 1975, các thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam lại tiếp tục được dạy dỗ theo chiều hướng này, chỉ có giai đoạn xảy ra cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung 1979 hay 1988 thì những lời ca ngợi tình hữu nghị Việt Trung đời đời bền vững mới lặng tắt đi, để rồi sau khi Đảng cộng sản Việt Nam quay trở lại xin làm lành với Đảng cộng sản Trung Quốc thì mối quan hệ ấy đã được nâng lên thành 16 chữ vàng! Nhà Nước thì “dạy dỗ” con dân như vậy, nhưng người dân thì vẫn chỉ nghe theo lý trí lẫn tình cảm của mình. Cho đến bây giờ, có thể nói rằng số người Việt Nam không thích, thậm chí ghét hay thù hận chính quyền Mỹ, nhà nước Mỹ vẫn có, nhưng chắc chắn rằng số người Việt Nam không thích nhà cầm quyền Trung Quốc và e ngại đường lối, chính sách đối ngoại của họ đối với Việt Nam cao hơn nhiều. Điều đó cũng dễ hiểu thôi. Những kinh nghiệm cay đắng ngàn đời trong lịch sử khiến cho người Việt Nam luôn luôn có một tinh thần cảnh giác cao đối với mọi động thái của nước láng giềng. Chưa kể cho đến tận bây giờ, trong cách hành xử với nước đàn em nhỏ bé hơn nhiều lần, Trung Quốc đã không chứng tỏ được tư cách nước lớn mà ngược lại. Mặc cho nhà cầm quyền Việt Nam vì quyền lợi của Đảng và của các nhóm lợi ích cam tâm cúi đầu nhịn nhục Đảng và nhà nước Trung Quốc, người dân Việt Nam từ lâu đã hiểu rất rõ rằng là bạn với Trung Quốc chỉ có thua thiệt đủ đường cho đến mất nước mà thôi, ngược lại chơi với các nước phương Tây trong đó có Mỹ thì chả ai lấy mất của mình một mẩu đất hay có âm mưu đồng hóa, tiêu diệt văn hóa Việt Nam gì cả.
 
 
 

Thanh niên sinh viên Việt Nam biểu tình trước Tòa đại sứ Trung Quốc hôm 9-12-2007 để phản đối việc Bắc Kinh hợp thức hóa việc quản lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
 
 
 
 
       Những sự kiện gần đây vô hình chung là một phép thử cho cả nhà nước Việt Nam cũng như người dân Việt Nam. Không nói đến báo chí trong và ngoài nước, nếu chỉ theo dõi các diễn đàn độc lập, các trang blog cá nhân là nơi người Việt thuộc đủ mọi thành phần, lứa tuổi…viết lên những suy nghĩ, quan điểm của mình, sẽ thấy lòng dân nghĩ gì về Việt Nam trong mối quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, về sự lựa chọn con đường phải đi trong tương lai. Có khá nhiều ý kiến phân tích những cái lợi, cái hại trong việc tiếp tục ngả hẳn về phía Trung Quốc là con đường mà nhà cầm quyền Việt Nam đã chọn trong nhiều năm qua, hay chơi trò “đu dây” để hưởng lợi từ sự đối đầu giữa hai cường quốc trong tương lai hoặc dứt khoát đứng hẳn về phía thế giới tự do dân chủ. Đa số người dân kêu gọi nhà nước Việt Nam hãy tỉnh táo đặt quyền lợi đất nước và dân tộc lên trên quyền lợi của Đảng, của một thiểu số tầng lớp có đặc quyền đặc lợi với chế độ. Trong suốt chiều dài mấy chục năm cướp chính quyền và giữ chính quyền, Đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam chưa bao giờ làm được điều này và đã luôn luôn có những sự lựa chọn sai lầm chỉ vì tầm nhìn ngắn, tư duy hẹp hòi, bảo thủ, cộng với lòng tham vô đáy của các thế hệ lãnh đạo Việt Nam nối tiếp nhau. Giờ đây đất nước và dân tộc Việt Nam lại đang đứng trước một ngã rẽ mới-sẽ là thời cơ, là vận hội nếu biết nắm lấy và thay đổi chế độ để tập hợp được lòng dân, dựa vào dân và dựa vào thế giới bạn bè đồng minh là các nước dân chủ mà giữ nước, hồi sinh và phát triển đất nước hay sẽ lại một lần nữa nhỡ tàu, đẩy đất nước gần hơn tới họa Bắc thuộc, điều đó là trách nhiệm của họ, những người đang nắm quyền lãnh đạo đất nước. Nhưng trách nhiệm ấy cũng thuộc về mọi người dân Việt Nam.
 
Phải nói thật tôi chưa bao giờ tin vào sự thay đổi cũng như quan trí của những người lãnh đạo Đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam. Trước những biến chuyển của thời cuộc thái độ của nhà nước Việt Nam ra sao? Họ sẽ lại tiếp tục “một bước tiến hai bước lùi”, chơi trò đi xiếc trên dây giữa các nước như từ xưa đến giờ vẫn thế. Thậm chí, nếu đọc lại những lời phát biểu của trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ quốc phòng về những chuyến viếng thăm của tàu chiến Mỹ tới Việt Nam vừa qua hay đường lối, chính sách quốc phòng của Việt Nam thì đủ rõ phe thân Tàu trong Bộ chính trị Việt Nam vẫn còn mạnh lắm. Nhưng tôi tin vào lòng dân và vận nước. Nhớ một lần đến Warszawa tôi đã được tận mắt chứng kiến những dấu tích còn lại từ những trang lịch sử bi thương của dân tộc anh hùng này. Cũng giống như Việt Nam, Ba Lan phải nằm cạnh nước láng giềng khổng lồ là nước Nga, một thời là Liên Bang Xô Viết đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa. Người Ba Lan đã từng có nhiều kinh nghiệm cay đắng trong mối quan hệ với Liên Xô. Chiến tranh giữa Ba Lan và Nga Xô viết đã từng diễn ra trong thời gian 1919-1921, cũng chính Liên Xô mà cụ thể là Xtalin đã “đi đêm” với phát xít Đức bán đứng Ba Lan trong chiến tranh thế giới lần thứ hai dẫn đến việc Đức và Liên Xô cùng xâm lược Ba Lan năm 1939 và lãnh thổ Ba Lan bị chia thành hai vùng thuộc quyền kiểm soát của Đức Phát xít và Liên Xô, hay việc Xtalin hạ lệnh hành quyết hơn 22 ngàn sĩ quan cao cấp và công dân Ba Lan trong khu rừng Katyn vào mùa xuân năm 1940 v.v… Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, dân tộc này cũng như nhiều dân tộc khác của Đông Âu phải nằm dưới sự kiểm soát, cai trị của Liên Xô .Vậy mà cũng chính Ba Lan là quốc gia mà đảng cộng sản phải chịu sụp đổ đầu tiên góp phần to lớn vào sự sụp đổ nhanh chóng sau đó của chủ nghĩa cộng sản trên khắp Đông Âu. Ngày nay Ba Lan là một quốc gia tự do, dân chủ, có nhiều cải thiện về nhân quyền, với nền kinh tế trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất vùng Trung Âu. Và nhiều thành tựu khác về vị trí chính trị trên thế giới.
 
Khi nghĩ về Ba Lan, tôi lại nghĩ về dân tộc tôi đất nước tôi. Số phận cũng đặt Việt Nam nằm sát bên cạnh một nước khổng lồ xấu chơi như Trung Quốc, số phận cũng đẩy đưa khiến Việt Nam cứ phải rơi vào bàn cờ chính trị giữa các nước lớn, chỉ cay đắng rằng những người lãnh đạo Việt Nam không có đủ dũng, nhân, trí và dân tộc Việt Nam thì chưa kịp hiểu hết nỗi cay đắng của một nước nhỏ để mà tự thay đổi vận mệnh của đất nước mình. Nhưng dù sao tôi vẫn tin rằng một dân tộc không bị diệt vong bởi họa ngàn năm Bắc thuộc hay những cuộc chiến tranh với những nước lớn mạnh hơn gấp nhiều lần thì ngày hôm nay cũng không thể bị diệt vong.
 
Song Chi

Hai hình ảnh hai cuộc đời !

Cậu bé Bill Clinton 16 tuổi
Ngày 24 tháng 7 năm 1963, một cậu bé 16 tuổi ở bang Arkansas, tên là Bill Clinton, đã được diện kiến tổng thống John F. Kennedy tại White House. Tổng thống John F. Kennedy đã thân mật bắt tay cậu bé.
Ba mươi năm sau, cậu bé Bill Clinton trở thành vị tổng thống thứ 42 của Hoa Kỳ.
Hồi tưởng giây phút được bắt tay tổng thống John F. Kennedy 30 năm trước, tổng thống Bill Cinton nói: “Giây phút đó gây một tác động sâu sắc trong tôi.
Tôi nghĩ rằng giây phút đó là một điều gì tôi luôn luôn mang theo, và tôi rất may mắn vì có một người nào đã chụp ảnh giây phút đó và cho tôi bức ảnh để tôi có thể tưởng nhớ.”
(It had a very profound impact on me... I thinh that it was something that I carry with me always, and I was very fortunate that someone took the photo of it and gave it to me so I was able to remember it.)
Giây phút đó đã được thu vào phim tài liệu của White House và hiện nay đã được chiếu lại trên Youtube để cả thế giới có thể xem.
*
Cậu bé Ngô Bảo Châu 16 tuổi
Ở Việt Nam, cậu bé Ngô Bảo Châu 16 tuổi, mới học lớp 11, đã đoạt Huy Chương Vàng Olympic Toán quốc tế 1988 tại Canberra. Năm sau đó, một lần nữa cậu lại đoạt Huy Chương Vàng Olympic Toán quốc tế 1989 tại Braunschweig.
Sau kỳ tích này, thần đồng toán học đã phải đến báo cáo thành tích với ông Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười với tư thái như thế này:


Ông Đỗ Mười (trình độ học vấn như thế nào thì ai cũng biết cả rồi!) ngồi chễm chệ trên ghế dựa, mắt không nhìn cậu bé Ngô Bảo Châu.
Trong khi đó, cậu bé thần đồng toán học đứng khép nép rụt rè báo cáo về những điều mà ông Đỗ Mười không bao giờ hiểu nổi.
Trong tuần qua, tấm hình này đã được đăng lại trên rất nhiều báo ở Việt Nam. Dưới tấm hình, báo Vietnamnet ghi:
Ngô Bảo Châu báo cáo thành tích với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng khi đó là Đỗ Mười, sau khi đạt Huy chương vàng Olympic Toán quốc tế.
Ngô Bảo Châu báo cáo thành tích với nguyên Thủ tướng Đỗ Mười sau khi đạt Huy chương vàng Olympic Toán quốc tế.
Báo Bình Định, Cơ quan của Đảng bộ Đảng CSVN tỉnh Bình Định, ghi:
Ngô Bảo Châu báo cáo thành tích với lãnh đạo Đảng.
Tôi muốn hỏi: Tại sao một cậu bé thần đồng toán học lại phải báo cáo thành tích cho một ông lãnh đạo Đảng (mà chính ông ấy lại là một kẻ dốt toán)?
Cái thái độ quan liêu dửng dưng của ông lãnh đạo Đảng chứng tỏ rằng Đảng không hề quan tâm đến toán học hay khoa học gì cả.
Đảng chỉ quan tâm đến những thành tích mà cậu bé thần đồng đạt được. Cái trò này chỉ là cái trò chực giành lấy thành tích của một cá nhân làm thành tích của Đảng.
Bình thường, học sinh Việt Nam sống đói rách, học hành nhếch nhác trong một hệ thống giáo dục tệ hại ra sao, thì ai cũng biết, nhưng Đảng mặc kệ.
Đợi đến khi có một ai đạt thành tích gì to lớn, thì Đảng vội vàng vơ lấy, theo kiểu “nhờ ơn Đảng mà mày mới được thế này!”
Trò này cứ tái diễn mãi. Ai cũng biết cả rồi.

Lương Thị Nữ Nhi
  

 

THƯ MỜI HỌP  

Kính gữi :- Qúy Vị Ðại Diện các Tổ chức, Hội Ðoàn Người Việt Tỵ Nạn CSVN,

- Qúy Vị Ðại Diện Truyền Thông, Báo chí,
- Qúy Vị Thân Hào Nhân Sĩ
- Qúy Ðồng Hương Lưu Vong vì họa CSVN

Trước hiện tượng phân hóa trong môi trường sinh hoạt đấu tranh tại Pháp ngày càng bành trướng, được tóm tắt ghi nhận trong "TÂM THƯ XIN TỪ CHỨC" đề ngày 9/8/2010 (đính kèm), của ông Nguyễn Tường Long, đương kim Tổng Thư Ký VPLL nhiệm kỳ (2009 - 2011).  

          Văn Phòng Liên Lạc Các Hội Ðoàn và Người Việt Tự Do tại Pháp,  

Trân trọng kính mời Qúy Vị vui lòng và nhiệt tình đến tham dự buổi họp bất thường để bầu Tân Tổng Thư Ký (xin từ chức), do những nguyên nhân trình bày trong "Tâm Thư" nêu trên.  

Buổi họp được khai mạc vào lúc 14 giờ đến 18 giờ ngày thứ bảy 4/9/2010
tại "CISP" KELLERMANN  (phòng Charlety)
17 Bld. Kellermann  -  75013 Paris
(Métro : Ligne 7, station Pte. d'Italy  -  Tramway : Arrêt Pte. d'Italie)  

Vì tầm mức quan trọng của buổi họp trước âm mưu vô cùng qủy quyệt và hiểm độc của nghị quyết "36" đang được CS Hà Nội quyết tâm dùng "gậy ông đập lưng ông" hòng vô hiệu hóa chính nghĩa và tư cách của người Việt tỵ nạn chính trị (Hà Nội gọi là người Việt nước ngoài).

Chúng tôi (VPLL...), khẩn thiết kêu gọi sự hiện diện đông đủ của qúy Vị trong phiên họp bất thường này, hầu kịp thời cử chọn "Tân Tổng Thư Ký VPLL ..." cho sinh hoạt đấu tranh đương đầu với tình thế nguy cấp hiện tại.

Thành thật mong được hội ngộ tất cả qúy Vị trong buổi họp bất thường, quan trọng nêu trên.                                                      

Paris ngày 10 tháng 8 năm 2010

Tổng Thư Ký

Nguyễn Tường Long

Đức Đạt Lai Lạt Ma
Vị Thần Tượng Thời Nay

  

 Phu nhân Tổng thống Pháp Carla Bruni-Sarkozy tươi cười lúc đuợc diện kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma.  

1. Mở đầu

Trong thời gian qua, tác giả đã có duyên may được mời làm thông dịch viên Việt ngữ trong hai pháp hội lớn của ngài: một pháp hội tổ chức tại đại học Lehigh University trong tháng bảy, 2008 với đề tài "Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Luận [1]" ở tiểu bang Pensylvania và một pháp hội tháng tám, 2008 tổ chức tại tỉnh Nantes, Pháp quốc với bốn đề tài chính [2] nói về "Tánh Không" trong Phật giáo.

Sau hai pháp hội đó, tác giả trở về đời sống của mình thường ngày với một tâm tư xúc động và cảm tạ sâu xa. Ở mỗi pháp hội Đức Đạt Lai Lạt Ma đều đánh dấu trên tâm tư của mọi người lòng cảm phục vô vàn. Bài viết này không có ý tóm tắt về hai pháp hội mà chỉ có ý ghi lại lòng cảm xúc sâu xa đó dưới khía cạnh Ngài là vị thần tượng của thế giới ngày nay.

Ngoài giải thưởng Nobel hòa bình, ở tất cả mọi nơi trên thế giới, các vị lãnh đạo quốc gia, các trường đại học danh tiếng nhất đều tán thán và trân quý đến con người của Ngài qua những bằng tưởng lệ, huy chương hay công dân danh dự.

Với tác giả thì Ngài là vị thần tượng thời nay. Chữ thần tượng này không được dùng trong ý nghĩa thần thánh hóa, vì Ngài luôn luôn nói tôi chỉ đơn giản là một vị tỳ kheo Phật giáo.

Thần tượng trong ý nghĩa là Ngài thật sự sống cuộc đời đơn giản và bình dị, với hai bộ áo tỳ kheo, một đôi giép cao su nhật bản qua tất cả mọi lần giao tiếp chính thức với các vị lãnh đạo nguyên thủ của các cường quốc, như mới đây chúng ta có thể nhìn hình trên các báo chí đăng tải buổi diện kiến Ngài đã tiếp vị đệ nhất phu nhân Pháp quốc Carla Bruni trong bộ áo tỳ kheo và đôi giép nhật bản.

Hình Ngài thật là đơn giản bình dị như thế bên cạnh vị đệ nhất phu nhân Carla Bruni thật là sang trọng và chúng ta có thể nhận thấy rõ nụ cười nở trên đôi môi của bà Tổng Thống Pháp quốc, chứng tỏ là bà đã hoan hỷ như thế nào khi được ở bên Ngài.

Do đó chữ thần tượng ở đây không phải trong ý hướng thần thánh hóa, mà thần tượng vì con người đơn giản bình dị của Ngài đã ban cho mỗi chúng ta lòng hoan hỷ vô biên khi được sống bên Ngài, khi được nhìn sự bình dị và tấm lòng rộng lớn bao la của Ngài lúc Ngài nói câu:

Cho đến khi thế giới và các chúng sinh còn tồn tại,
Tôi xin nguyện tồn tại để phục vụ cho tất cả chúng sinh....

Đời sống của Ngài là cả sự bình dị và lòng chân thật như Ngài đã từng nói tại lần Ngài ghé thăm tu viện Ganden Ling của Dagpo Rinpoche tại ngoại ô Paris: "Điều khổ tâm nhất là phải đóng khuôn, làm vai trò giả tạo như thể mình là một vị đã đạt được một cái gì, mà cho dù có cố đóng vai trò như thế cũng không thể làm mãi mãi, vì chỉ một thời gian sau là sẽ trở thành vô cùng khổ sở...."

2. Đời sống bình dị và lòng chân thật của Ngài ban ra niềm hạnh phúc vô biên

Ở trong một thế giới hiện đại vô cùng của thế kỷ thứ 21 ngày nay, cả thế giới lao đầu vào trong cuộc sống tiêu thụ và chạy đua không ngừng nghỉ trong sự phung phí và tiện nghi.

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã từng cảnh cáo và răn dạy là hạnh phúc không nằm trong các tiện nghi vật chất. Bởi vì càng có tiện nghi vật chất thì chúng ta càng phát triển trí thông minh và từ đó phát sinh những nhu cầu và đòi hỏi tìm kiếm về tâm linh.

Nếu chúng ta không nhận chân ra là những tiện nghi vật chất không thể giải quyết những vấn đề của tâm lý mà thể hiện chính yếu qua lòng bất an sợ hãi thâm căn cố đế của mình thì chúng ta sẽ chỉ càng ngày càng lâm vào những bế tắc của đời sống khi lao đầu vào các cuộc chạy đua hưởng thụ tiện nghi vật chất.

Thực vậy, khi chúng ta còn nghèo khổ, phải đầu tắt mặt tối để lo tìm giải quyết nhu cầu cơm áo thì những sự căng thẳng tâm lý không có cơ hội phát triển. Nhưng khi bụng đã được no đủ, có nhà cao cửa rộng, xe cộ tiện nghi thì những nhu cầu tâm lý và tâm linh phát triển mạnh mẽ hơn nhiều.

Thêm một điều nữa ta có thể thấy rõ là khi phải chịu các sự khổ đau tinh thần thì tiện nghi vật chất không giúp ta được nhiều gì để giảm thiểu các khổ đau đó. Nhưng khi chúng ta phải chịu khổ đau vật chất hay khổ đau thể xác thì một thái độ an nhiên điềm tĩnh sẽ giúp chúng ta vượt qua các khổ đau, đau đớn thể xác dễ dàng.

Như vậy thì tinh thần quan trọng hơn vật chất nhiều lắm, mặc dù các tiện nghi vật chất thực ra cũng có giúp ta phần nào trong đời sống. Nhưng trạng thái tinh thần của chúng ta mới thực sự là điều chính yếu để mang lại hạnh phúc lâu dài.

Như vậy, khi nhận ra điều căn bản đó, là thực sự chúng ta không cần nhiều nhặn gì lắm về đời sống vật chất, hai bữa cơm đơn giản một ngày và một ít quần áo ấm thân là đủ, thì chúng ta bắt đầu thực sự đi vào con đường tìm về hạnh phúc.

Chúng ta thực sự cần săn sóc đời sống tâm linh của mình nhiều hơn, để đi đến niềm hạnh phúc rất đơn giản trong sự tri túc vật chất và an vui của tinh thần. Đây là điều Ngài thường nhấn mạnh: hạnh phúc và an vui của tinh thần chỉ có thể phát triển qua lòng nhân ái từ bi, an hưởng trong niềm vui sướng khi mình nhìn thấy những việc làm của mình giúp cho những người khác đạt được an vui...

Nhưng thế nào mới là làm cho những người khác an vui... Mang lại an vui cho người có phải là ban cho họ những tiền bạc của cải hay sự thành công rực rỡ và quyền lực?

Trên thực tế, chúng ta nhận thấy là không phải như vậy. Tiền bạc của cải danh tiếng chẳng thể ban cho mọi người lòng an vui. Bởi vì nếu tiền bạc của cải danh tiếng quyền lực mang đến sự an vui thì có lẽ những vị vua chúa hay là các vị lãnh đạo nguyên thủ đều được an vui.

Trong khi ngược lại, chúng ta thấy những vị đó đều thường ăn ngủ không yên, lo lắng quá độ như ngồi trên lò lửa đốt, hoặc là làm việc quá độ và căng thẳng đến mức sinh ra bệnh tật như là đau tim và tiết ra nhiều chất cholesterol gây xơ cứng động mạch, tai biến mạch máu não và bại xuội.

Ngược lại, chúng ta sẽ hưởng nhiều sự an vui bên một người đầy đức hạnh mà lại thật là bình dị. Như là hình ảnh tươi cười của bà Tổng Thống Pháp quốc khi được diện kiến bên Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Chỉ cần được sống gần Đức Đạt Lai Lạt Ma để nhìn thấy đức hạnh và lòng nhân ái thật là sống động của Ngài sẽ mang lại niềm hoan hỷ tuyệt vời đó. Những điều tự mình mắt thấy tai nghe về lòng nhân ái và bình dị đó sẽ trở thành những bài học ghi tâm khắc cốt cho chúng ta, làm thành những bài học thân giáo [3] qua các hành động thực sự tự nhiên của Ngài. Trong hai pháp hội vừa qua đã có không biết bao nhiêu nhũng bài học sống động đó mà chúng ta có thể ghi chép lại một ít sau đây.


3. Lòng nhân ái và từ bi

Trong pháp hội tại Saint Herblain, tỉnh Nantes, một hôm Ngài đang thuyết giảng trên ngai, bỗng ngưng lại và chỉ vào hai vị nhân viên an ninh đang đứng bên dưới sân khấu và yêu cầu Ban Tổ Chức mang đến hai ghế ngồi cho các nhân viên đó vì Ngài nhận thấy họ đã đứng liên tục trong mấy ngày pháp hội để bảo đảm an ninh cho toàn thể hội trường.

Ngài nói là hãy mang cho họ ghế ngồi để được thoải mái trong việc làm của họ, và như thế họ sẽ có đầu óc tỉnh táo hơn để làm việc được vui vẻ và hữu hiệu hơn. Hai vị nhân viên an ninh sung sướng ngồi thoải mái và rất cám ơn Ngài, một cử chỉ tuy nhỏ, nhưng đã chứng tỏ là Ngài để ý và rất quan tâm đến niềm phúc lạc của người khác qua các sự để ý thật vi tế và chi tiết.

Một hôm khác, Ngài được ông thị trưởng tỉnh Nantes tên là Jean-Marc Ayrault mời đến tòa thị sảnh để dự tiệc chiêu đãi. Hôm ấy, ông thị trưởng vừa mới đọc diễn văn xong, đi xuống về chỗ ngồi của mình trong khi Đức Đạt Lai Lạt Ma lên nói vài lời với khán giả.

Ngài chưa kịp nói gì thì bỗng nghe ồn ào, ông thị trưởng kéo ghế ngồi chẳng ngờ vì lính quýnh thế nào mà kéo ghế quá ra phía sau cho nên chân ghế lọt ra ngoài sàn sân khấu và ông ta bị ngã nhào. Khán giả thấy cảnh hoạt náo của ông thị trưởng cũng bật cười.

Lúc ấy, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhanh nhẹn đi xuống và định đỡ ông thị trưởng lên thì các hộ vệ viên đã nâng ông đứng giậy. Nhưng Ngài cũng thân chinh mang lại một cái ghế và đặt ở giữa khán đài, đè nhấn xuống thử để xem có chắc không, rồi vừa cười vừa chỉ cái ghế và mời ông thị trưởng "an tọa!", và nói:

“Trong các buổi họp long trọng thế này tôi thuờng thấy không khí quá nghiêm trọng và hay cố tìm cách làm cho mọi người thư giãn vui vẻ hơn. Nhưng mà may quá, lần này thì tôi không cần cố vì nhờ ông thị trưởng đã chuyển đổi không khí thành thoải mái và vui hơn nhiều cho chúng ta”. Mọi người lại được dịp cười ồ lên và bầu không khí chuyển thành vui vẻ, rất là thân mật, không còn nghiêm trọng như trước

Lòng nhân ái và từ bi của Đức Đạt Lai Lạt Ma thật là vi tế, nhưng lại thật là đơn giản, không màu mè, không có tâm ý cố tạo, hoàn toàn "vô tâm" và "vô cầu", làm cho tất cả các người gần gũi Ngài đều cảm thấy tự nhiên, trừ bỏ hẳn các tâm cạnh tranh và giành giựt.

Con đường tu tập thực sự phải là tự “tạo dựng công đức mà không tạo dựng công đức, đó mới là thực sự tạo dựng công đức [4]”.

Đó là ý nghĩa của "vô tâm" và "vô cầu" trong tất cả các hành trì tích tụ công đức qua các hạnh từ bi nhân ái. Tích mà vô tâm vô cầu nên không có người tích, không có kẻ thọ báo công đức vì dù sao cũng đã hành hạnh Thập Hồi Hướng toàn bộ công đức đến mọi chúng sinh hữu tình. Cho nên khi chúng ta ở bên người tu tập mà "vô tâm" "vô cầu" thì sẽ cảm thấy vô cùng thoải mái hoan hỷ và cùng nhau hành trì để tất cả đều trọn thành Phật đạo.

4. Lòng bình dị và chân thật

Đức Đạt Lai Lạt Ma đi đâu cũng toát ra một tâm thức thực sự bình dị và chân thật. Sự bình dị và chân thật luôn được thể hiện qua các cung cách đối thoại và trả lời dí dỏm của Ngài đối với các câu hỏi của mọi người đặt ra. Trong cả hai pháp hội ở Lehigh University cũng như tại Nantes, Ngài đã cho một khoảng thời gian để trả lời các câu hỏi, và những câu trả lời của Ngài đã chứng tỏ tâm thức bình dị và chân thật của Ngài. Mọi người, ai cũng vô cùng thần tượng và thánh hóa Đức Đạt Lai Lạt Ma. Đôi khi những câu trả lời của Ngài đã xóa những cách nhìn quá xa vời về Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Có một câu hỏi rất thú vị đã được đặt ra như sau: "Thưa Ngài, có khi nào Ngài mất lòng kiên nhẫn không (His Hollines, have you ever been loosing your patience) ?". Đức Đạt Lai Lạt Ma đã mỉm cười và trả lời câu hỏi ấy qua một câu chuyện có thực về Ngài.

Đức Đạt Lai Lạt Ma kể lại: "Tôi có từng quen biết một vị phụ nữ người Mỹ và là một nhà báo của của tờ Nữu Ước Thời Báo (New York Time). Bà ta rất thích Phật giáo và hành trì theo Phật giáo. Một lần, bà ấy đã đến gặp tôi và hỏi: Khi ra đi thì Ngài để lại cho chúng con một cái gia tài gì? (What legacy you leave to us when you depart from this life?).

Tôi trả lời cho bà là tôi không cần phải nghĩ về gia tài để lại, vì như thế không đúng với giới nguyện của tôi, mà tôi chỉ hành trì đạo. Rồi bà ta lại hỏi câu ấy trong vài lần khác, và tôi cũng trả lời thêm nữa y như vậy. Sau đó bà lại đến và đặt một câu hỏi như thế, nhưng theo một kiểu khác, và lúc đó thì tôi đã không giữ được bình tĩnh nữa (nguyên văn: and I lost my temper) [5]".

Toàn hội trường bật cười lên ầm ỹ trước câu trả lời thật dí dỏm của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Câu trả lời thật bình dị và chân thật, thẳng thắn đến độ làm người nghe đôi khi cảm thấy thấy ngỡ ngàng, hồn nhiên và thú vị trước sự chân thật đó, ("và tôi đã không giữ được bình tĩnh ...and I lost my temper").

Tôi cũng ôm bụng cười lăn trước máy vi âm. Ở đây, bạn đọc thực sự cần phải sống ngay tại hội trường lúc đó mới hiểu được cung cách trả lời của Ngài, mới nhìn thẳng được vào tâm bình dị và dí dỏm của Ngài.Một sự chân thật tự nhiên thẳng thắn không hề mang cái tâm chê trách người đối diện, và nhất là không tự thần thánh hóa hay đóng vai thánh thiện, nói là mình không bao giờ mất bình tĩnh. Câu trả lời của Ngài chỉ như là một lời nhắc nhở thương yêu: hãy đừng chấp trước như thế, vì như vậy là si ngốc. Như người mẹ mắng yêu đứa con dại dột của mình: sao con lại dại ngốc thế, đâu cần phải lo lắng như vậy....

5. Lòng tôn trọng và hòa hài với các tôn giáo khác

Giữa lúc thế giới đi vào trạng thái phân hóa trầm trọng. Trước sự chia cách và bạo động tôn giáo qua những hành động của một nhóm quá khích Taliban đã đặt chất nổ tàn phá tượng Phật lớn, cao 150 bộ anh và cổ xưa đến 1700 năm trong vùng núi Hindu Kush của Afghanistan, Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn kêu gọi sự tôn trọng và hòa hài tôn giáo. Ngài vẫn thường tranh đấu cho Hồi giáo và luôn luôn tuyên bố:"Tuy có các khác biệt, nhưng tựu chung, tất cả các truyền thống tôn giáo đều có cùng một căn bản, đó là kêu gọi phát triển lòng thương, lòng nhân ái đến tất cả mọi người".

Trong cả hai pháp hội vừa qua, Đức Đạt Lai Lạt Ma đều tha thiết kêu gọi phát triển lòng tha thứ và hòa hài tôn giáo, tôn trọng tất cả các truyền thống tôn giáo khác nhau. Ở mọi nơi, Ngài luôn luôn khuyên bảo hãy tôn trọng và thông cảm lẫn nhau. Đức Đạt Lai Lạt Ma không bao giờ khuyến khích ai cải đạo. Ngài luôn luôn nói, hãy giữ truyền thông tôn giáo gia đình của quý vị, và tránh gây ra những sự xáo trộn, rối loạn tâm linh. Nhất là khi vào lúc cuối đời, ở trong tình trạng lâm chung mà bị khủng hoảng nguồn cội tâm linh (identity crisis) thì là một điều rất nguy hiểm cho thần thức người chết.

Điển hình nhất của lòng tôn trọng và hòa hài này là câu chuyện Đức Đạt Lai Lạt Ma thường kể trong các pháp hội.

Ngài nói: "Tôi có quen biết một người bạn Âu Mỹ tu trong truyền thống Thiên Chúa Giáo của giòng tu Phan Xi Canh, một giòng tu kín và thường hay nhập ẩn tu, để trầm tư mặc tưởng (thiền theo lối Thiên Chúa Giáo). Một hôm, trong lúc nói chuyện, tôi hỏi thăm là khi ông nhập ẩn tu như vậy để mặc tưởng thì ông thiền định về điều gì? Ông ta nói rằng chỉ để thiền định về lòng nhân từ (nhân ái-từ bi) [6].

Tôi thật là thích thú nhận ra rằng căn bản của các tôn giáo vẫn là lòng từ bi. Sau một thời gian quen biết và trao đổi các kinh nghiệm tu tập, ông ta càng ngày càng thích về Phật giáo. Rồi đến một hôm, ông đến gặp tôi nói rằng, thưa Ngài, tôi bây giờ đang tìm hiểu về Tánh Không. Tôi bèn cười và nói với ông ta: đấy không phải là chuyện của ông (that is none of your business)".

Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích là vì ông ta từ xưa đến giờ vẫn tu trong truyền thống tôn giáo hữu thần, nghĩa là đặt trọng tâm trên lòng tin vào đấng Thượng Đế Toàn Năng. Nếu bây giờ tìm hiểu vào Tánh Không của Phật giáo sẽ phải loại bỏ ý niệm và lòng tin vào đấng Thượng Đế, vì Tánh Không đồng nghĩa với Nhân Quả và Duyên Khởi, nói rằng không có đấng Tạo Hóa nào sinh ra mọi sự vật, mà tất cả chỉ là do nhân duyên, tùy thuộc vào nhau mà khởi sinh. Nếu tìm học thêm như thế, ông ta sẽ có nguy cơ bị mất lòng tin vào Thượng Đế và sẽ lâm vào tình rạng rối loạn tâm linh, đó là một điều rất nguy hiểm cho người tu sĩ.

Nhưng điều cực kỳ hay ở đây là Đức Đạt Lai Lạt Ma đã khéo léo trả lời một cách thật là dí dỏm và bình dị: "đấy không phải là chuyện của ông (that is none of your business)". Và Ngài đã cười phá lên thật là thoải mái.

6. Tâm siêu thế gian và không màng đến quyền lợi chính trị

Trong một chương trình bình luận chính trị mới đây xảy ra trên đài truyền hình France 2 tại Paris, Pháp quốc, nhân lúc thời sự đang nóng bỏng về vấn đề Thế Vận Hội Quốc Tế [7] tại Bắc Kinh, liên hệ cả đến sự bất tôn trọng nhân quyền của và đàn áp Tây Tạng của Trung Cộng, một bình luận gia chuyên môn và nổi tiếng của Paris đã phân tích lý do tại sao Trung Cộng lại sợ hãi Đức Đạt Lai Lạt Ma như thế.

Ông ta đã giải thích cặn kẽ lý do tại sao mà Trung Cộng lại sợ hãi và nhất định không chịu công nhận quyền tự trị của Tây Tạng (Tibet autonomy), mặc dù Đức Đạt Lai Lạt Ma chỉ xin được có quyền tự trị và chấp nhận giải pháp Tây Tạng vẫn thuộc về nước Trung Cộng chứ không đòi độc lập thành quốc gia riêng rẽ. Đó là vì một lý do chủ yếu:

Đức Đạt Lai Lạt Ma không màng đến quyền lực thế gian. Ngài nói rằng một khi được công nhận quyền tự trị, Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ từ chức nguyên thủ của chính phủ Tây Tạng và thiết lập một chính quyền hoàn toàn tự do dân chủ qua những cuộc bầu cử quốc hội và Thủ Tướng Tây Tạng. Còn Ngài thì sẽ tự mình rút lui về cương vị một tu sĩ Phật giáo đơn thuần và chuyên hành trì mà thôi.

Trung Cộng vốn là một nước đặt căn bản điều hành trên sự thống trị bằng đàn áp phi dân chủ. Những lần chính quyền Trung Cộng đã đàn áp đẫm máu trên chính người dân đồng bào của họ như vụ biểu tình của Thiên An Môn năm 1989 đã chứng tỏ điều đó.

Ngay cả trong lần Thế Vận Hội vừa qua, người ta cũng có thể thấy rõ sự điều hành của Trung Cộng đặt toàn diện trên hệ thống quân đội và công an để giữ sự thống trị trên dân chúng và áp đặt quyền hành. Trên các đài truyền hình, chúng ta đã thấy cảnh các người dân oan kêu khóc vì bị tước đoạt nhà cửa làm Thế Vận Hội mà không được bồi thường thỏa đáng.

Do đó chính quyền Trung Cộng rất sợ hãi lòng tôn trọng dân chủ không màng đến quyền lợi chính trị của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Vị bình luận viên trên đài truyền hình France 2 còn nói rằng, với đức hạnh và tinh thần siêu thế gian, không màng đến quyền lợi chính trị, nếu Đức Đạt Lai Lạt Ma thực hiện được quyền tự trị Tây Tạng sẽ làm khởi sắc lại phong trào tranh đấu cho dân chủ tại Trung Cộng, lôi kéo theo các phong trào đòi quyền tự trị khác của các vùng Tân Cương, vùng xứ Hồi, vùng Tráng tộc và Nội Mông.

Một vị Đạt Lai Lạt Ma trở về được xứ Tây Tạng tự trị, tranh đấu xây dựng cho nền dân chủ của Tây Tạng và không màng đến quyền lợi chính trị sẽ được tất cả các sắc dân Trung Hoa hướng về và chiêm ngưỡng, để từ đó sẽ khởi sắc những phong trào tranh đấu cho tự do dân chủ mạnh mẽ hơn cả phong trào Thiên An Môn năm 1989.

Như thế, đó mới là điều Trung Cộng sợ hãi, Đức Đạt Lai Lạt Ma và các đức hạnh của Ngài, hơn bao giờ hết.

7. Đức Đạt Lai Lạt Ma, vị thần tượng bình dị trong lòng chúng ta

Đức Đạt Lai Lạt Ma là vị thần tượng của thời đại chúng ta, cái thời đại mà những giá trị của lòng nhân ái, của lòng vị tha đã bị đời sống tiêu thụ và vật chất đẩy vào quên lãng. Thời nay, tất cả đều hướng sự sống về lòng vị kỷ, cho cá nhân của riêng mình. Gia đình, cha mẹ, con cái đều quay cuồng trong cuộc sống chạy theo đồng tiền và sự thành công danh tiếng.

Thế nhưng, cho dù sống trong trào lưu tiêu thụ và vật chất đó, nhân cách của Ngài đã sáng chói qua bộ áo tu bình dị và đôi giép nhật bản cố hữu. Ngài đã nổi bật lên qua đời sống bình dị và lòng chân thật của mình khi đi khắp nơi trên thế giới thuyết pháp và tranh đấu cho nhân quyền, cho lòng nhân ái, lòng vị tha và tha thứ.

Mọi nơi đều hướng về Đức Đạt Lai Lạt Ma với lòng thành kính vô biên và chia sẻ sự tranh đấu bất bạo động cao quý của Ngài.

Một người bạn đã từng hỏi tôi: "Tại sao anh không đóng góp, làm chùa, in kinh sách cho Phật giáo Việt Nam mà lại làm việc tích cực và tu tập tích cực theo truyền thống Mật tông Tây Tạng và sùng kính Đức Đạt Lai Lạt Ma?"

Tôi trả lời: "Phật giáo giảng dạy giáo lý và hành trì để đạt giác ngộ. Nơi đâu có đấng giác ngộ thì mình hướng về nơi đó tu tập. Ngày xưa Đức Phật Thích Ca thành đạo và tất cả chúng ta bây giờ đều tu tập pháp của Ngài. Bằng chứng là chúng ta luôn luôn tụng đức Thích Ca là vị bổn sư qua câu Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Đức Thích Ca cũng là người Ấn độ chứ có phải là người Việt Nam đâu? Là người xứ nào, đâu phải là điều ta nên phân biệt, tổ Huệ Năng ngày xưa có nói: Phật tánh đâu có phân biệt nam bắc".

Lần khác bạn tôi bảo là, có người nói một câu như sau: "Tôi tu theo truyền thống Việt Nam vì không thích hợp truyền thống Mật tông Tây Tạng với các màu sắc sặc sỡ hoa hoè hoa sói, và hỏi tôi nghĩ sao về câu này".

Tôi trả lời: "Một lần nữa, tu học Phật giáo là để đạt giác ngộ, do đó giác ngộ là điều chính yếu chứ không nên mắc kẹt vào những màu sắc để rồi quên mục đích chính là giác ngộ. Do đó, tuy màu sắc hoa hoè mà có giác ngộ thì cứ tu theo thôi, không nên chỉ vì kẹt thấy cái màu sắc đó mà bỏ cái cốt lõi là giác ngộ bên trong. Còn nếu không có màu sắc hoa hoè mà lõi bên trong không có giác ngộ thì tu theo cũng đâu có ích gì.

Tóm lại, giác ngộ mới là chính yếu, đừng quan tâm đến chuyện phụ (màu sắc) mà quên đi là mình đang đi tìm về giác ngộ. Không nên bị ngăn ngại vì chuyện phụ đó. Vả lại, theo tôi biết thì chính người nói câu không thích màu sắc hoa hoè đó cũng tu theo Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, mà lại quên rằng chính bổn sư của mình là người Ấn độ và mặc quần áo hoa hoè của người Ấn độ thời xưa, và như thế đã tự mình mâu thuẫn với chính lập luận của mình.”

Và sự thực thì không thể nào phủ nhận: Đức Đạt Lai Lạt Ma là vị thần tượng của thời nay. Thế giới hướng về vị thần tượng không vì thần thánh hóa, mà do sự ban phát niềm vui hạnh phúc khi được gần Ngài và sống với nhân cách cao quý đầy đức hạnh, nhưng lại thật là bình dị và chân thật của Ngài.

 

Par phusi.over-blog.org
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Samedi 14 août 2010 6 14 /08 /Août /2010 23:58

 

Hơn 2000 đồng hương chống Văn Hoá Vận tại Sydney Úc Châu

THỜI CƠ ĐÃ CHÍN CHO MỘT SỰ THAY ĐỔI VỀ CƠ BẢN - Bùi Tín

Khi Nào Trung Quốc Tấn Công Việt Nam Lần Thứ Hai?

CHUYỂN HỨƠNG CỦA THẾ GIỚI . Tác giả : Lê Văn Xương .

1000 năm Thăng Long hay 61 năm Quốc Khánh của Trung Cộng?

NHU CẦU BỨC THIẾT HÌNH THÀNH LỰC LƯỢNG ĐỐI LẬP TẠI VIỆT NAM

Một viên tướng đương nhiệm kêu gọi cải tổ dân chủ theo mô hình Hoa Kỳ

Một vài câu hỏi về Tướng Giáp - Phạm Cao Dương

TIN NGẮN TRONG NGÀY  

Bác Hồ ơi ! Bác xúi bậy ...  Cay mắt quá
Đại Ca Lý Tống ơi ! Xin tha cho em ... Em chịu thua 0-1  

 

 

 

Lý Tống, Chiến Sĩ Lưu Vong, Không Ngụy Hòa !
video cuối trang 
 “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”! Có ai hiểu nỗi lòng người chiến sĩ, đang Cánh Chim Đại Bàng Lý Tốngnhư con chim bay bổng tự do, lại tự hủy đi đôi cánh mình rồi chấp nhận vào tù? Ở nơi đó, với những bức tường im lìm quanh năm, những song sắt lạnh lùng từ tháng này sang năm nọ?
 
  
  
  
  
  
  
 
 
 
Chắc là không! Một ngày trong tù dài như một năm, lê thê buồn chán. Nếu không là tấm lòng đấu tranh sắt đá bền bỉ của người chiến sĩ chống Cộng, quên mình, ắt đã phải gục ngã kiệt quệ trong bóng đêm dài chỉ có mình và mình.
   Chưa kể đến, những luồng dư luận của kẻ vong ân, của kẻ ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, thổi luồng khí độc thối tha vào tâm trí người chiến sĩ hầu đánh gục tinh thần đấu tranh của người anh hùng trong những ngôi nhà tù lạnh lẽo, đơn phương. Nhưng không, anh hùng không bao giờ đầu hàng trước những khó khăn cản trở của bất cứ một thế lực nào. Cùng lằm là những hành động bôi bẩn tên anh. Nhưng anh chẳng màng.
 
 Nếu ai ôm mộng đánh gục khí phách của người chiến sĩ Ó Ðen-Lý Tống, thì họ phải thất bại thảm hại, trước những ngón đòn đánh phá biến hóa vào ngay tâm điểm của bọn Cộng Sản tay sai, đang thực thi chính sách ru ngủ dân tị nạn, nhập nhằng qua những bài ca, giọng hát của những tên văn công một đời thề trung thành thờ phượng Bác, Ðảng. “Bạc như dân”!
 
 Ngày nào còn Ó Ðen Lý Tống, ngày ấy bọn Cộng Sản và bè lũ tay sai còn nhức đầu, đau óc trước những cuộc tấn công bất ngờ huyền ảo của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa - Lý Tống. Những phi vụ bất ngờ, lần dằn mặt ca sĩ văn nô Ðàm Vĩnh Hưng của người chiến sĩ Ó Ðen Lý Tống đã như một ngọn lửa bùng lên thiêu rụi những ù lì, những kẻ ba phải, những kẻ an phận thủ thường. Ðã như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào tâm thức của một số người, làm tỉnh lại sự hờ hững lạt lẽo trước công cuộc đấu tranh dành tự do cho dân tộc. Họ đã có thể vô tình hay cố tình quên những sự cai trị tàn độc dã man của bọn Cộng Sản với dân lành ở vào những ngày Tết Mậu Thân.
 
 Sự tráo trở bọn Bắc Bộ phủ, đầu năm ấy, bất ngờ tấn công vào đồng bào trong những ngày Tết. Máu chảy thành sông, xác người la liệt, nhiều cái chết tức tửi giữa đường trên người còn trong bộ áo mới tinh dành cho ngày Tết. Những cái chết thê thảm lăn lóc không còn tứ chi đâu đó đã bốc mùi thối ở ba ngày xuân có muôn hoa đang nhả mùi ngan ngát. Người sống đớn đau tìm xác người thân ở những góc đường, ở những hầm chôn tập thể. Tiếng ai oán kêu vang khắp trời Huế vẫn réo rắt trong lòng anh. Huế vốn đã buồn, Huế lại càng buồn thảm hơn khi đầu rơi hàng loạt, lệ nhỏ thành sông. Ai hiểu Cộng Sản hung tàn hơn những người đi nhặt xác chồng? Ai biết Cộng Sản độc ác hơn những người đi tìm xác cha, Và ai? Ai nuốt nghẹn ngào tức tửi trong các trại tù mệnh danh “Cải tạo”? Cứ nghĩ đến đó thôi, Lý Tống người anh hùng đấu tranh ở tuổi đã cao không thể nào chùn bước!
 
 * 1968 Cộng quân bội ước tấn công vào Huế ở những ngày ngưng chiến, bọn giặc đỏ cướp đi hàng chục ngàn mạng sống dân vô tội, có lẽ họ chết mà không hiểu sao mình chết trong những ngày được gọi là hưu chiến này.
 
 * 1975 hằng trăm ngàn người chết oan, đủ kiểu, chết trong tù, chết ngoài khơi, chết trong rừng thẳm, chết dưới họng súng quân cộng trong bản án tử hình đọc
vội...( Ðại tá Hồ Ngọc Cẩn).
 
Chưa nói đến những cái chết anh dũng không đầu hàng của chiến sĩ QLVNCH phơi khô dưới nắng gắt của những con lộ kinh hoàng, không người chôn. Chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nằm xuống khắp nơi trên các chiến trường của đất nước chỉ để bảo vệ tự do no ấm cho người hậu phương, và rồi, thời gian qua, nơi xứ người, mọi người quên, anh không quên. Làm sao quên được nỗi đau như chực dìm anh xuống chín tầng địa ngục? Và làm sao quên được trọng trách của người lính Việt Nam bất khuất kiên cường khi đâu đây, ánh mắt người dân trong nước đang bị chế độ Cộng Sản dập vùi, họ đang kêu cứu, đang muốn thoát ra khỏi ngục tù, như trách hờn anh chưa hoàn thành nhiệm vụ!.

 
 Cũng như bao nhiêu người dân bị lãnh tụ bỏ rơi, hoang mang như rắn mất đầu... Anh theo đoàn người tạm lánh nạn Cộng Sản trong một cõi lòng tan nát. Ba thập niên qua, anh cũng đã có thể “vinh thân phì da”, cũng có thể an nhàn hưởng già ở cái xứ được nhiều ân huệ. Nhưng; nỗi đau mất nước, nỗi đau của người chiến sĩ chưa hoàn thành nhiệm vụ trong anh vực dậy, buộc anh phải sống cuộc sống của một người chiến sĩ không chấp nhận chế độ Cộng Sản - Người anh hùng Lý Tống Ó Ðen!
LyTong0.jpg image by Vntvnd
 
 Hãy vào ngồi tù một ngày rồi sẽ hiểu, hãy làm những công việc như anh rồi sẽ biết. Không đơn giản như ta nhìn, không dễ dàng như ta thấy. Con người tưởng “nhân chi sơ tánh bản thiện”, nhưng không; bản thiện đó biến mất khi tay nhận tiền cung cúc làm tay sai cho giặc. Bản thiện biến mất khi háo hức với cái tôi hám dẫy đầy trong thiên hạ. Ðôi khi, lòng anh có chùng xuống, nhưng chưa hề nản lòng. Anh không cho phép mình bỏ cuộc trước những mũi dùi đánh phá thâm hiểm của Cộng Sản và tay sai, đang dùng người tị nạn triệt hạ người tị nạn:
 
 “Mấy ai người đem hết tâm can,
 trước quân thù hung hiểm gian ngoan,
 biết bao kẻ mơ hồ đang hoảng loạn,
 nghĩ đến ngày mai lòng ta tan nát.
 Ðến bao giờ lấy lai được giang san!”.

 
 Lời thơ người tù Nguyễn Chí Thiện thấm thía quá. Người lính hy sinh, dân quên dễ dàng với cuộc sống mới. Người tị nạn Cộng Sản từng hơ hãi hốt hoảng tìm cái chết trong cái sống tìm tự do trên đất người. Họ quên, quên đi cảnh trốn chui, trốn nhũi ra đi. Người thoát được, người chết trên biển đông, chết dưới họng súng của quân Cộng khi bị chúng phát giác được. Một số như những tên tay sai hám danh tham tiền quay lưng phản bội cộng đồng. Cộng đồng tị nạn chính trị từng bảo bọc nuôi dưỡng chúng. Bạc như dân”!
 
 Anh cảm thấy tội nghiệp cho Ðàm Vĩnh Hưng, tên văn công côn đồ đã không biết thân phận chốt thí của mình, không giằn được máu du đãng, thói kiêu căng như thể lãnh tụ Ðảng... Vẫn chưa chừa thói hung hăng sau khi bị xịt tiêu cay vào mắt. Một lần nữa, thách đố hỗn xược trên những tờ báo công cụ tay sai của Bắc bộ, hăng máu gà vịt để lãnh hậu quả chua cay trong một rạp hát 7000 ngàn chỗ ngồi, chỉ có hơn 700 khán thính giả tham dự. Khán thính giả đi xem ngượng ngùng đã phải che mặt, cúi đầu, tránh làn sóng người biểu tình phẫn nộ, phản đối lên cao!
 
 Ði xem Ðàm Vĩnh Hưng để phải đứng chờ một tiếng đồng hồ ngay cửa rạp cho nhân viên an ninh khám xét từ đầu đến chân. Tội nghiệp thay! Anh chẳng thể ngờ, lại có những người như thế tồn tại trên mảnh đất này? Mảnh đất mà dân tộc anh phải trả bằng xương máu để được tạm dung! Dưng không; anh thèm được khóc, khóc như đứa con nít ngày nào bị giật trên tay thỏi kẹo nhỏ. Nỗi buồn luồn lách trên thịt da anh, thịt da của người lính từng xông pha chiến trận tưởng đã cứng khô không còn cảm giác.
 
 Bắc Cali, mùa hè năm nay dù đã ở vào tháng tám, Trời vẫn trở lạnh vào ban đêm, làm nhói buốt những vết thương từ lâu trong cơ thể. Những cái buốt lạnh thịt da không bận lòng người chiến sĩ. Chỉ có những tấm lòng phản trắc lạnh như phiến băng nhọn, cắt cứa vào tim óc anh từng mảnh vụn. Ðôi lúc anh tưởng chẳng bao giờ vực dậy, thì là lúc, tâm hồn anh cương nghị hơn, rắn rỏi hơn. Anh không cho phép mình ngã gục khi lòng ngực còn có thể hít thở không khí từng giây. Lý Tống Ó Ðen, người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, người anh hùng của người Việt Nam không chấp nhận chế độ Cộng Sản thẳng người trước bàn thờ tổ quốc xin thề ố không đầu hàng cộng quân dù ở mọi chiến tuyến nào. Lá cờ vàng ba soọc đỏ như phất phới trước mặt, nhắc anh, trách nhiệm còn nặng nề trên con đường đấu tranh. Anh thầm nghĩ, gía phải cầm súng trực diện với quân thù có lẽ dễ dàng hơn khi phải đối đầu với thủ đoạn trăm ngàn mưu kế của Ðảng Cộng Sản Việt Nam đang gài người qua ngõ ngách âm nhạc, ru ngủ dân đen. Nhà thơ đấu tranh Nguyễn Chí Thiện từng trong ngục tù Cộng Sản, thơ ông như những ngọn giáo sắc nhọn bắn thẳng vào đầu não của bọn cầm quyền. Chúng tàn nhẫn khóa miệng ông, nhốt ông trong ngục lạnh, nhưng không khóa được lời thơ cứng như đá, sắc như gươm có sức mạnh hơn cả một tiểu đoàn, hơn cả khẩu đại bác bay khắp địa cầu để kêu lên tiếng kêu của loài người bị giam cầm như muông thú.
 
   Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện được trả tự do và thoát ra bến bờ tự do. Tưởng được đứng chung hàng ngũ chống lại tập đoàn cai trị mị dân trong nước, nhưng lại bị hại bởi những tấm lòng phản trắc, điêu ngoa. Theo chỉ thị của Ðảng Cộng Sản, bọn tay sai hội đồng “hè” nhà thơ đập ông bằng những luận điệu ấu trĩ mong triệt hại tiếng thơ như ngàn khẩu đại bácBọn tay sai CS là ai”? Là một lũ hám danh tham tiền, sẵn sàng thực thi mệnh lệnh tuyên truyền của bọn Bắc Bộ Phủ tại hải ngoại. Triệt hạ hàng ngũ quốc gia chống cộng.   
 “Vì ấu trĩ thờ ơ ngu tối,
 Vì muốn an thân vì tiếc máu xương”.

 Nguyễn Chí Thiện
 
 Lý Tống Ó Ðen Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa một lần nữa thắp sáng ngọn lửa đấu tranh đang lan rộng khắp nơi. Song song việc làm của người anh hùng Lý Tống, vẫn còn những âm mưu thâm độc của Ðảng Cộng Sản gài người, trà trộn lẫn lộn vào cộng đồng phá rối nhằm gây chia rẽ và phân tán mỏng hàng ngũ đấu tranh của người Việt mang căn cước tị nạn!
 
 “Một cánh tay giơ lên, hàng ngàn cánh tay giơ lên, hàng vạn cánh tay giơ lên quyết đấu tranh cho một nền hòa bình chân chính. Ðập nát tan mưu toan. Ðầu hàng với quân xâm lăng?Ta thà chết chứ không hề lui, quyết không hề phản bội quê hương...” Tiếng hát từ cục chính huấn trong radio phát ra mỗi ngày trên quê hương ngày đó, vẫn lộng lộng trong ký ức người anh hùng.
XEM VIDEO
link
Nguyễn Thụy Minh Ngữ
 
Tiểu Thuyết Nguyệt San

  
Taliban hành quyết một phụ nữ mang thai
  
Bạo lực, chết chóc vẫn xảy ra hàng ngày tại Afghanistan
Bạo lực, chết chóc vẫn xảy ra hàng ngày tại Afghanistan
  
Thanh Phương

Tại Afghanistan, một phụ nữ, là góa phụ và đang mang thai, đã bị phe taliban hành quyết trước công chúng ngày hôm nay vì bị quy tội ngoại tình.

Bà Bibi Sanubar, 35 tuổi, bị phe taliban giam giữ trong ba ngày qua, hôm nay đã bị đánh 200 roi, trước khi bị bắn ba viên đạn vào đầu trước công chúng tại tỉnh Badghis, miền Tây Afghanistan.

Trong thời gian phe taliban cầm quyền ở Afghanistan từ năm 1996 đến 2001, những vụ hành quyết bằng cách ném đá những người bị coi là phạm tội ngoại tình vẫn diễn ra thường xuyên. Phe taliban, vốn chủ trương một luật Hồi giáo rất khắt khe, cũng thường chặt tay và chân những người phạm tội trộm cắp.

Còn tại Kaboul hôm nay, thi hài của 8 nhân viên hoạt động nhân đạo đã bắt đầu được giao cho gia đình nạn nhân. Tám nhân viên này, gồm 6 người Mỹ, một người Anh và người Đức, cùng với hai phụ tá người Afghanistan, đã bị bắn chết vào tuần trước ở tỉnh Badakhstan, một tỉnh có tiếng là yên tĩnh ở miền Tây Bắc.

Phe Taliban và tổ chức Hezb-e-Islami, lực lượng phiến quân lớn thứ hai ở Afghanistan, đã nhận là tác giả vụ thảm sát, khẳng định rằng những nhân viên nói trên là “các nhà truyền đạo Thiên chúa giáo” và là “gián điệp của NATO”.

Hoa Kỳ, Anh quốc, nhiều nước khác, cũng như Liên hiệp quốc đã lên án vụ sát hại nói trên.

Giới phân tích Bắc Kinh coi tập trận Mỹ-Việt là chống lại Trung Quốc
 
Quân đội Mỹ biểu dương lực lượng ở khu vực châu Á 
Quân đội Mỹ biểu dương lực lượng ở khu vực châu Á  
 
Thanh Phương

 

Tờ Nhân dân Nhật báo, bản tiếng Anh, hôm nay cũng ra một bài bình luận nhận định rằng, việc chiến hạm Mỹ tập trận với kẻ thù cũ Việt Nam càng khiến người ta phải tự hỏi là phải chăng Hoa Kỳ đang muốn xây dựng một khối NATO kiểu châu Á? Đây cũng là ý kiến của một đại tá không quân Trung Quốc và cũng một nhà phân tích chiến lược đăng trên trang web China.org.cn.

Cuộc thao dượt chung của hải quân hai nước Hoa Kỳ Việt Nam hôm nay bước sang ngày thứ hai và sẽ kéo dài đến ngày thứ bảy 14/8. Về mặt chính thức thì những hoạt động hợp tác huấn luyện này là nằm trong khuôn khổ đợt kỷ niệm 15 năm bình thường hoá bang giao Mỹ Việt và đây chỉ là những cuộc thao dược không có tính chất tác chiến, mà chỉ là tìm kiếm cứu nạn hay hay sửa chữa khẩn cấp trên biển, v.v. . .

Cho tới nay, chưa thấy Trung Quốc có phản ứng chính thức gì, nhưng theo hãng tin Hoa ngữ CNA của Đài Loan hôm nay, đối với các chuyên gia quân sự ở Bắc Kinh, cuộc tập trận chung này chính là nhằm chống lại Trung Quốc. Trích dẫn báo chí Hồng Kông, hãng tin này cho rằng những phân tích cho thấy cuộc tập dượt chung do Việt Nam hoạch định với một ý đồ chống Trung Quốc, sau một loạt những tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên biển Đông.

Hãng tin CNA trích lời một sĩ quan cao cấp của hải quân Trung Quốc nhận định rằng, một loạt những cuộc biểu dương lực lượng quân sự của Mỹ gần đây biểu thị một tư duy mới trong chính sách ngoại giao của nước này đối với Trung Quốc và qua đó cũng chứng tỏ Hoa Kỳ vẫn là cường quốc số một thế giới. Cũng theo hãng tin CNA, một giáo sư về quốc phòng Trung Quốc cho rằng cơ sở cho việc tăng cường hợp tác vẫn tồn tại vì hai nước Mỹ Trung chia sẽ quyền lợi chung, nhưng ông nói thêm là sau một loạt những hành động “khiêu khích” nói trên, Bắc Kinh phải xét lại lập trường đối với Hoa Kỳ. Hãng tin CNA trích lời một sĩ quan cao cấp khác của Trung Quốc tuyên bố rằng không thể cho phép Hoa Kỳ làm bất cứ gì họ muốn.

Tờ Nhân dân Nhật báo, bản tiếng Anh, hôm nay cũng ra một bài bình luận nhận đình rằng, việc chiến hạm Mỹ tập trận với kẻ thù cũ Việt Nam càng khiến người ta phải tự hỏi là phải chăng Hoa Kỳ đang muốn xây dựng một khối NATO kiểu châu Á? Đây cũng là ý kiến của một đại tá không quân Trung Quốc và cũng một nhà phân tích chiến lược đăng trên trang web China.org.cn hôm qua (11/8). Theo tác giả bài viết này, các cuộc tập trận gần đây ở vùng Hoàng Hải và tuyên bố can thiệp vào các vấn đề ở vùng biển Hoa Nam ( Biển Đông ) là những nỗ lực nhằm bao vây Trung Quốc. Nói cách khác, Hoa Kỳ đang mưu toan thành lập một “NATO châu Á” bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc và các nước Đông Nam Á.

Trước đó, tờ nhật báo Anh ngữ China Daily ngày 9/8 cũng đã đăng bài chỉ trích Việt Nam nhân sự kiện hàng không mẫu hạm Mỹ USS George Washington đậu ngoài khơi Đà Nẳng. Tờ báo cho rằng Việt Nam đã ngả theo lập trường của lập trường của Mỹ trên vấn đề Tây Sa ( tênTrung Quốc gọi Hoàng Sa ) khi Hà Nội lên án việc Trung Quốc tiến hành khảo sát điạ chất ở khu vực gần Hoàng Sa.

Tờ báo trích lời một học giả thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, Việt Nam đã cố tình quốc tế hóa vấn đề biển Hoa Nam, để có thể làm đối trọng mạnh hơn với Trung Quốc, với sự yểm trợ của Mỹ. Vị học giả này cho rằng: “ Hoa Kỳ cần Việt Nam như là một công cụ nhằm làm đối trọng với sự phát triển của Trung Quốc. Nhưng hai nước sẽ không xích lại quá gần nhau, mà trong lúc này, mỗi bên chỉ lấy những gì cần từ phía bên kia”.
 

Par phusi.over-blog.org
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Samedi 14 août 2010 6 14 /08 /Août /2010 23:55

*

 
HÃY THẮP CHO ANH MỘT NGỌN ĐÈN
  
Hình ảnh và kỷ vật của cô
HSI Lý Thị Thương Uyên.
Giao Chỉ - San Jose
Sau cùng, suốt 30 năm tạp ghi, viết về cựu chiến binh, viết về thuyền nhân, viết về nước Mỹ, viết về Việt Nam Cộng Hòa, lần này tôi được yêu cầu viết về một mối tình. Nói cho chính xác, viết về chuyện tình của cô nữ quân nhân thuộc hàng thấp nhất của hạ sĩ quan.
Cô hạ sĩ nhất của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tên Lý thị Thương Uyên hiện cư ngụ tại Oklahoma City với Area code 405, giữa cơn giông bão mùa Xuân năm 2010 đã kể lại chuyện đời lính của phụ nữ Việt Nam. Cuộc đời của chính cô. Cô phàn nàn rằng sao không thấy bác viết về chuyện hạ sĩ quan binh sĩ. Không viết về người lính nữ quân nhân thực sự sống chết tại các đơn vị. Sao bác không viết về chuyện của em...
Cô Uyên gửi thư cho Dân sinh Radio sau khi nghe loạt bài về Thủy Quân lục chiến và trận Quảng Trị. Phải chăng cô biết gì về Quảng Trị. Không. Cô gái suốt đời là học sinh và suốt đời đi lính chỉ quanh quẩn ở hậu giang và miền Đông Nam Phần, chẳng biết gì về cao nguyên, duyên hải hay miền Trung Việt Nam.
Nhưng cô có liên hệ rất nhiều với người yêu thủy quân lục chiến, cô nghĩ rằng trận Quảng Trị là trận của người lính mũ xanh. Cô muốn gửi di vật của trung úy Thủy quân lục chiến Bùi Năng Vũ về cho viện Bảo Tàng tại San Jose.
Lá thư viết như sau:
“Kính gởi bác Giao Chỉ.”
 
“Em tên thật là Lý thị Thương Uyên hiện ở Oklahoma, xin gởi một kỷ niệm nhỏ đến bác. Mong nó được lưu giữ. Đã 40 năm qua em giữ nó như báu vật. Qua bao nhiêu cuộc bể dâu nó vẫn ở bên mình. Không biết bao lần em đã tự hỏi nếu một mai chết đi thì nó sẽ ra sao? Có thể bảo con trai liệm chung trong quan tài cho mẹ. Khi sang thế giới bên kia em sẽ gặp Vũ để trả lại cho anh. Nhưng cuộc đời này làm sao biết được ngày mai. Vậy xin bác giữ lại và đặt vào chỗ nào đó cho em yên lòng.”
“Kỷ vật nhỏ bé gửi kèm theo chỉ là bài thơ do trung úy Thủy quân lục chiến Bùi Năng Vũ tặng em cuối mùa thu 1970, lúc đó đơn vị gốc của anh Vũ ở căn cứ Sóng Thần, khu Rừng Cấm, thuộc Tiểu Đoàn Ó Biển. Vũ đã chết ở trại tập trung Đà Lạt năm 1978. Đây là số điện thoại của Uyên (405)......”
Đính kèm là bài thơ của anh Sĩ quan Thủy quân lục chiến viết chữ rất đẹp, trên những tờ giấy màu xám mỏng bỏ trong 1 bao thơ đơn sơ cũ kỹ. Góc bao thơ đề: “Vũ, thủy quân lục chiến. Gửi cho Thương Uyên.”
Phía dưới là hàng chữ: “Nhờ Chỉnh chuyển dùm trao. Cám ơn.”
Bài thơ mở đầu như sau:
 
Lời hứa buổi hoang sơ tương ngộ.
Chỉ một lần xin nhớ đến trăm năm...
 ****
Đọc xong lá thư của cô Uyên, đọc xong bài thơ của anh Vũ, tôi nghĩ đến người lính trẻ đã chết trong ngục tù. Nghĩ đến người nữ quân nhân còn sống ở miền giông bão Hoa Kỳ. Bèn quay số 405..... hỏi thăm.....
Câu chuyện tình được bắt đầu kể lại.
Uyên quê ở Tân Châu, Hồng Ngự thuộc miền quê Châu Đốc, chưa học hết trung học nhưng có tên thật đẹp như bút hiệu nên cuộc đời cũng gặp nhiều phiền phức. 16 tuổi lên Sài Gòn ở nhà cậu mợ. 18 tuổi ghi tên vào học lớp hạ sĩ quan nữ quân nhân. Năm 70 ra trường nhưng vì thường cậy có chút nhan sắc lại ba gai nên không được mang cấp bậc trung sĩ. Cô chỉ tốt nghiệp hạ sĩ rồi được gửi đi Vũng Tàu học đánh máy ở trường Truyền Tin.                         
Tại đây cô gặp thiếu úy Vũ, dân Bắc kỳ. Anh được Thủy quân lục chiến đưa về học lớp sĩ quan truyền tin. Mối tình kéo dài suốt thời gian cả 2 người theo học tại Vũng Tàu. Cô Uyên hỏi bác Giao chỉ có biết đại tá Tạo chỉ huy trưởng trường truyền tin không. Có, bác Tạo trước đây ở San Jose, nhưng bác đã chết rồi. Cô khóa sinh khoe rằng em được bác Tạo cho chụp hình nữ quân nhân truyền tin đang học đánh máy để treo trên tường. Như vậy chắc cô lính trẻ có nhan sắc ăn ảnh đáng được chụp hình quảng cáo cho binh chủng.                         
Cô kể tiếp rằng mối tình với Vũ là mối tình đầu đẹp đẽ nhất. Khi trung úy đi hành quân Cam bốt, cô Uyên đến thăm hậu cứ trại Cấm, Sóng Thần đã được các bạn đồng nghiệp cho vào phòng truyền tin nói chuyện với người yêu qua siêu tần số hành quân. Nhưng rồi những ngày vui qua mau. Tình đầu không phải là tình cuối.                         
Một hôm Uyên khám phá ra rằng Vũ thực ra đã có người yêu. Đó là cô Sương quê Mỹ Tho, nữ điều dưỡng ở quân y viện Vũng Tàu. Sương quen Vũ từ khi anh nằm tại bệnh viện này. Uyên là người đến sau nên cô quyết định chia tay mối tình đầu đầy nước mắt. Vũ ra vùng hỏa tuyến. Uyên đổi về quân đoàn III. Rồi sau cùng cô đổi về tiểu khu Kiến Hòa thuộc quân đoàn IV. Cô xin đi thật xa miền Đông, nhưng vẫn nhớ Vũ và giữ mãi bài thơ tỏ tình năm 70.
Từ Hạ Lào trở về, Vũ lấy Sương, mối tình đầu của anh. Năm 1973 Uyên lấy thiếu úy Nhiều, một sĩ quan hải quân, phục vụ trên chiến hạm Trần Khánh Dư.
Từ đó Uyên yên phận làm vợ của người lính biển. Khi mang bầu đứa con đầu tiên, anh chồng sĩ quan hải quân lênh đênh trên biển Đông đã dặn vợ đẻ con gái đặt tên Cam Tuyền, con trai đặt tên Hoàng Sa. Cam Tuyền cũng là tên một hòn đảo của Hoàng Sa. Và đứa con trai Hoàng Sa đã ra đời tại Mỹ Tho. Hai vợ chồng cùng khoác chiến y nhưng chiến tranh đã chia cắt gia đình thành nhiều mảnh. Chồng hải quân sống trên đại dương. Vợ trực gác tổng đài tại mặt trận xình lầy Bến Tre. Con trai Hoàng Sa gửi về cho bà nội nuôi ở Châu Đốc.
Cô Uyên tiếp tục hăng hái kể chuyện nhà binh.
Sau mối tình đầu dang dở, cô và chị Sương nay vợ của Vũ đã gặp nhau nối thành tình bạn gái. Cuộc đời nữ quân nhân, với cấp bậc hạ sĩ rồi vinh thăng hạ sĩ nhất đã dành cho cô Uyên những kỷ niệm không bao giờ quên được. Cô đã từng là hoa hậu của các chiến binh độc thân trong đơn vị từ binh sĩ đến hạ sỹ quan. Vì mang cấp hạ sĩ, cô cai Uyên gần gũi với đa số lính tráng hơn là các sĩ quan nữ quân nhân.
Những đêm hỏa châu làm việc dưới hầm truyền tin tiểu khu. Những anh lính ca vọng cổ tán tỉnh. Những lời hò tình tứ qua máy truyền tin lẫn trong tiếng pháo kích. Hỏa châu sáng rực chân trời. Chưa bao giờ cô lại thấy nhớ đời lính như vậy.
Nhưng rồi tháng 4-75 oan nghiệt chợt đến. Anh Vũ, Bắc Kỳ bỏ Sóng Thần từ biệt cô Sương đi trình diện vào tù trên Đà Lạt. Anh Nhiều, Nam kỳ bỏ vợ con ở Châu Đốc đi tù trong Đồng Tháp. Bộ binh cũng vào tù, Hải quân cũng vào tù. Cô lính trẻ có tên như tài tử nhưng chỉ mang cấp bậc hạ sĩ nhất nên không phải đi tù. Dù vậy cô vẫn nhớ thương quân đội Cộng Hòa. Một lần chị Sương ghé Mỹ Tho gặp Uyên báo tin anh Vũ đau nặng trong trại tù. Chị em cùng đi tìm mua thuốc tiếp tế. Mấy tháng sau, Sương ghé lại với ngón tay đeo 2 chiếc nhẫn cưới. Cô vừa đi chôn chồng sau khi nhận xác từ trại tập trung. Anh lính trẻ Bắc Kỳ chết đi để lại cho những cô gái miền Tây di vật cuối cùng. Cô Sương còn cặp nhẫn. Cô Uyên có lá thư tình. Anh Vũ chết rồi. Cô Sương trợ tá quân y không bao giờ lên Đà lạt nữa. Cô Uyên truyền tin còn đi thăm nuôi chồng 3 lần ở Đồng Tháp. Rồi anh Nhiều trở về. Thêm 1 đứa con trai ra đời, anh cựu sĩ quan hải quân tuy ra tù “cải tạo” nhưng vẫn còn nhớ mãi biển Đông nên đặt tên con trai thứ hai là Trường Sa.
Năm 1992 gia đình anh Nhiều và cô Uyên đem cả Hoàng Sa và Trường Sa qua Hoa Kỳ theo diện HO 9. Hai vợ chồng cùng đi làm và nuôi con ăn học.
Nhưng sao cuộc sống hòa bình ở Hoa Kỳ không giống như thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam. Vợ chồng không còn hòa thuận nên chỉ ở được với nhau thêm 4 năm tại Mỹ rồi chia tay. Lần lượt những đứa con trai trưởng thành đi theo bố về Texas làm ăn. Anh Nhiều có vợ mới. Cô Uyên còn lại ở Oklahoma một mình.
Cháu Hoàng Sa lập gia đình, có 2 đứa con nhưng rồi vợ chồng nó cũng chia tay. Lúc còn ở với nhau, vợ chồng con trai đưa cháu về thăm bà nội. Đó là những giây phút hạnh phúc nhất của cô hạ sĩ nhất Thương Uyên. Nhưng bây giờ chúng nó bỏ nhau. Vợ Hoàng Sa đưa con về bà ngoại. Cha con nó còn ít gặằp nhau. Chẳng ai còn ngó ngàng gì đến bà nội trẻ cô đơn nhớ đám cháu quay quắt đêm ngày. Năm nay cô mới 60 tuổi. Còn lâu mới lãnh tiền già. Cô cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa vẫn đi làm tự nuôi thân. Cuối năm 2009 cô bị té trong hãng nên phải nằm nhà, lãnh tiền thương tật vì tai nạn lao động. Suốt ngày chỉ quanh quẩn trong nhà. Mùa Đông 2009 mưa bão triền miên chẳng ra khỏi nhà. Trải qua cái TẾT cô đơn, cô Uyên nghe đài Radio nói về Thủy quân lục chiến đánh trận Quảng Trị 38 năm về trước. Cô bèn đi tìm lá thư tình của Trung úy Vũ, cô nghĩ đến ngày mai rồi mình cũng qua đời trong quạnh hiu giữa mùa tuyết phủ nơi xứ lạ quê người.
Những đứa con Hoàng Sa và Trường Sa thân yêu của cô cũng đang bận rộn bươn trải với cuộc đời mới. Chỉ còn lại một mình, chợt nhớ về mối tình ở trường truyền tin, những vần thơ rất lãng mạn và ngây thơ của người lính trẻ Bắc kỳ. Cô hỏi bác Giao Chỉ rằng nếu bây giờ, đã gần 40 năm rồi, cô vẫn còn thấy nhớ thương mối tình đầu thì có phải tội lỗi không?
Không, cô cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa của tôi, cô hạ sĩ quan truyền tin của tiểu khu Kiến Hòa, nàng cai xếp của tiểu đoàn truyền tin diện địa quân đoàn IV, cô không làm điều gì sai quấy khi ngồi than khóc cho chuyện tình gần 40 năm về trước.. Anh chàng Trung úy Bùi Năng Vũ rất xứng đáng để cô gái Tân Châu ngồi khóc ở Oklahoma, nhớ về những ngày hai đứa ngồi bên hàng dừa ở bãi sau Vũng Tàu. Anh thấy hình em treo trên tường ở phòng học đánh máy trong trường truyền tin. Trung úy thủy quân lục chiến Bắc Kỳ tạm quên cô Sương y tá bên quân y viện để gửi thư tán tỉnh cô khóa sinh truyền tin xinh đẹp. Chàng ký tên bút hiệu Châu Nguyên năm 1970 gửi bài thơ cho Lý thị Thương Uyên.
 
Lời hứa buổi hoang sơ tương ngộ.
Chỉ một lần xin nhớ đến trăm năm.
 
Đó là đoạn mở đầu. Và đây là những trích đoạn tiếp theo:
 
Bụi đường và tháng ngày còn đó.
Gởi cho Uyên làm kỷ niệm chia ly
Mai anh đi, nghe thời gian rũ cánh
Kiếp phong trần cháy đỏ trên tay
Đắng cay cho trọn tháng ngày
Cung thương một gánh, tình sầu chưa nguôi...
..............
Đá trong ly, đá tan thành rượu
Rượu lên men, rượu ngọt lịm môi...
...............
Có một ngàn vì sao
Nằm trong đáy mắt
Như một ngàn hỏa châu thắp sáng
Như một ngàn đóm thuốc trong đêm...
................
Em ơi! Thương Uyên! Anh là người lính
Mà số trời đã định, cho một cuộc sống
Với quá khứ là tủi nhục,
Hiện tại là đắng cay
Và tương lai chỉ là nấm mồ không tên nơi chiến địa...
 
Châu Nguyên, cuối thu 70.
 
Với lá thư tình não nuột như vậy, anh trung úy thủy quân lục chiến đã chiếm được trái tim cô gái Tân Châu. Và như chúng ta đã nghe cô hạ sĩ truyền tin kể lại, khi khám phá ra anh trung úy Bắc Kỳ bắt cá hai tay, cô đã bỏ đi để buộc anh phải trở lại với mối tình đầu. Để anh lấy chị Sương, người con gái Mỹ Tho.
Cô Uyên nói rằng, thưa với bác, em nhường Vũ cho chị Sương, nhưng em hỏi bác vì bác cũng là Bắc Kỳ, thơ này có phải thực lòng của anh Vũ không. Có phải thơ của Vũ làm không? Bác trả lời rằng, thơ này nhiều phần chính Vũ đã làm. Bác chưa từng đọc được lời thơ này ở đâu cả. Rất chân thành tuy cũng có phần cường điệu.. Người lính trên khắp thế giới đều vẫn thường đưa cái chết ra để dọa dẫm người tình và dọa dẫm cả chính mình,.Ngày xưa, ở tuổi 20, mới vào quân đội, Vũ cũng là hình ảnh của những anh Bắc Kỳ như bác... Anh nào cũng thơ thẩn bước vào đời. Thơ không làm được thì chép thơ thiên hạ tán đào. Bây giờ nhớ lại, ngượng chín cả người.
Quí vị đã nghe tôi kể chuyện của cô Uyên với nội dung không phải là một bi kịch ai oán não nùng. Không hề có những tình tiết éo le rắc rối. Nhưng mối tình đầu đã làm cô tưởng nhớ về những năm còn trong quân đội. Tuy bom đạn triền miên nhưng sao lại quyến rũ như vậy. Dù cô chỉ là 1 người lính đàn bà. 18 tuổi nhập ngũ, 25 tuổi tan hàng, với 7 năm quân vụ. Bây giờ đã 35 năm sau cô vẫn còn nhớ mãi về đời lính.
 Bác có nhận giữ hộ lá thư của anh Vũ không. Cô gái Tân Châu hỏi tôi như vậy. Trả lời rằng, bác sẽ lưu giữ trong Museum câu chuyện tình của anh chị. Xin gửi kèm cho bác vài tấm hình kỷ niệm. Báu vật quý giá của cô sẽ là di vật của Việt Nam Cộng Hòa. Ở đây không phải chỉ toàn là những trận đánh oai hùng. Phải có cả những câu chuyện tình hết sức đơn giản như mối tình của cô Uyên với anh Vũ, chuyện vợ chồng của anh Vũ với chị Sương. Chuyện chia tay của cô Uyên với anh Nhiều. Những đứa con mang tên Hoàng Sa và Trường Sa. Và sau cùng là chuyện cô gái cựu chiến binh, cô cai xếp Việt Nam Cộng Hòa giữa trời mưa bão mùa đông Oklahoma ngồi khóc cho mối tình 40 năm về trước.
Thưa bác, bây giờ em phải làm gì, cô Uyên hỏi tôi lần nữa.
Tôi trả lời rằng: Trung úy Vũ là người yêu đầu tiên của cô năm 1970 và bây giờ sẽ là người yêu cuối cùng vào năm 2010. Trong đoạn cuối của bài thơ ,Vũ đã viết rằng tương lai của anh chỉ là nấm mồ không tên nơi chiến địa.
Vậy cô Uyên hãy thắp cho anh Vũ một ngọn đèn.
 
Ngọn đèn tưởng niệm...
 
Hãy thắp cho anh một ngọn đèn...
Hãy thắp cho em một ngọn đèn...
Hãy thắp cho nhau một ngọn đèn...*
*(thơ Nguyễn Đình Toàn)
 
Giao Chỉ, San Jose.
 
Mỹ chạm vào “vùng quyền lợi cốt lõi” thứ ba của Trung Cộng
Nguyễn Ðạt Thịnh
 
Ngày 22 Tháng 7, 2010, ngoại trưởng Mỹ Hilary Rodham Clinton tuyên bố tại Hà Nội là Hoa Kỳ coi việc giải quyết một cách hòa bình những tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông là mối quan tâm mang tầm mức quốc gia của người Mỹ, đồng thời bà hối thúc các quốc gia liên quan nên gấp rút đàm phán để tìm giải pháp.
Bà còn nói Hoa Thịnh Ðốn quan ngại rằng những tuyên bố chủ quyền mâu thuẫn của nhiều nước về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa làm ảnh hưởng tới giao thương hàng hải, cản trở việc tiếp cận vùng hải phận quốc tế ở khu vực này và hủy hoại luật về biển của Liên Hiệp Quốc.
Sóng thần là sản phẩm của địa chấn dưới lòng biển, và sóng thần chính trị nổi lên trong cuộc hội nghị Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF) diễn ra vào tuần lễ thứ 3 của tháng Bẩy, là sản phẩm của chính sách ngoại giao bằng pháo hạm của Trung Cộng.
Những chiếc pháo hạm hóa trang thành tầu cảnh sát biển bắt ngư dân hành nghề trên Biển Ðông phải tuân hành luật lệ Trung Cộng; ngư thuyền nào hành nghề trong những tháng Trung Cộng cấm hành nghề sẽ bị bắt, bị phạt, ngư dân bị đánh đập. Việc làm này mang mục đích Trung Quốc hoá Biển Ðông; mọi người không khỏi nhận xét như vậy, vì nếu Biển Ðông không phải là lãnh hải “của” Tầu thì tại sao cảnh sát biển Tầu lại bắt giữ những ngư thuyền đánh cá trên biển mà người Tầu gọi là “Nam Hải”.
Nụ cười ngoại giao tươi như hoa vẫn không tắt trên đôi môi son đỏ của bà Clinton khi bà nói lên những lời khuyến cáo rất hòa nhã này, nhưng hãng tin Bloomberg nói bà đã làm Trung Cộng nổi giận. Ngoại truởng Trung Cộng Dương Khiết Trì giận đến như thế nào, mà thái độ của ông được tờ Tuần Việt Nam, trong số phát hành ngày 28 tháng Bẩy mô tả “Tạm gạt tính chất cứng rắn gần như là thịnh nộ trong phát biểu của Bộ trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì sang một bên, để tìm hiểu một cách tỉnh táo mọi vấn đề nằm trong ý kiến ông Dương nêu lên, chúng ta sẽ thấy gì?”
Hãng A.P. mô tả ông Trì mất bình tĩnh khi bà Clinton mở một lối thoát khác cho những bế tắc hiện nay trên Biển Ðông.
Tôi nghĩ  ông Trì không nổi giận vì câu nói, mà vì người nói; nếu cũng một câu này, nhưng người nói ra lại là ngoại trưởng Pháp, Nhật hay Anh, thì phản ứng của ông Trì không “thịnh nộ” rõ rệt đến mức người ngoài cũng nhìn thấy.
Ông Trì là một nhà ngoại giao, bà Clinton cũng vậy, nhưng ông Trì mất bình tĩnh, trong lúc bà Clinton vẫn tươi cười, thì hai hình ảnh này cho thấy bản lĩnh của mỗi người. Câu bà Clinton nói nghe như vô can, nhưng đang làm Biển Ðông nổi sóng –sóng lớn như sóng thần; tạo nhiều ảnh hưởng quan trọng cho cả Trung Cộng lẫn Việt Cộng và các quốc gia Ðông Nam Á khác.
Yếu tố khiến ông Trì khó chịu là “miệng kẻ sang có gang, có thép.” Bà Clinton đại diện cho “kẻ sang” Hoa Kỳ đứng ra khuyến cáo một cuộc đàm phán đa phương, điều mà Trung Cộng không chấp nhận.
Ông Trì phản đối Hoa Kỳ mưu tính ‘quốc tế hóa’ vấn đề biển Đông – nơi những lời tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh đang gây xung đột với các quốc gia khác trong khu vực Ðông Nam Á từ hơn một năm nay.
Trong thông cáo đăng trên trang web của Bộ Ngoại giao Trung Cộng  hôm 25 tháng Bẩy, ông Trì đặt câu hỏi: ‘Kết quả sẽ là như thế nào nếu vấn đề (biển Đông) bị quốc tế hóa và đa phương hóa? Điều đó sẽ chỉ làm cho vấn đề trở nên tồi tệ và khó giải quyết hơn.’ Ông quên không nói “tồi tệ hơn và khó giải quyết hơn” cho Trung Cộng, nhưng lại thoải mái hơn cho những quốc gia Ðông Nam Á.
Ngày 22 tháng Bẩy, ngày Hoa Kỳ nhập cuộc, sẽ được nhắc nhở như thời điểm đánh dấu một thay đổi căn bản trên Biển Ðông.
Trước hội nghị ARF, Trung Cộng đã long trọng công bố Biển Ðông là “vùng quyền lợi cốt lõi” của họ. Họ định nghĩa “vùng quyền lợi cốt lõi” là những địa phương trong đó họ quyết liệt không nhượng bộ, không thương thuyết.
Trung Cộng có 3 “vùng quyền lợi cốt lõi” (core interest) Ðài Loan, Tây Tạng, và Biển Ðông; Biển Ðông mới được tuyển vào địa vị “vùng quyền lợi cốt lõi” để cảnh cáo thế giới đừng xen vào, nhưng Hoa Kỳ vẫn phạm vào cấm điều này.
Trong 2 vùng được tuyển trước, “quyền lợi cốt lõi” của Trung Cộng là thống trị những chủng tộc sống trên lãnh thổ Tầu, hay lãnh thổ bị Tầu xâm chiếm mà không khuất phục quyền lực Trung Cộng: người Ðài Loan sống trong lãnh thổ trước kia bị sát nhập vào nước Tầu, và người Tây Tạng sống trong nước họ, bị Trung Cộng xâm chiếm.
Trong vùng quyền lợi cốt lõi số 3, Trung Cộng muốn độc chiếm chủ quyền và độc chiếm những nguồn lợi của Biển Ðông, giờ này những người “chủ cũ” của Biển Ðông như Việt Nam, Phi Luật Tân, Ðài Loan, Mã Lai, Nam Dương vẫn còn tranh chấp bảo vệ quyền đánh cá trên vùng biển họ vẫn sinh sống từ thủa khai thiên lập địa.
Tiến sĩ Giản Quân Ba thuộc Học viện Quan hệ Quốc tế, Đại học Phục Đán, Thượng Hải bảo phóng viên Nguyễn Trung của đài VOA là Trung Cộng có nhu cầu làm chủ Biển Ðông trước năm 2020, vì, “Nếu Bắc Kinh không thể giải quyết vấn đề tranh chấp và xác lập chủ quyền ở những hòn đảo và vùng lãnh hải trước năm 2020, đây sẽ là một thách thức lớn đối với Trung Quốc, bởi vì theo một nguyên tắc của luật quốc tế, nếu một quốc gia chiếm đóng một vùng đất hơn 50 năm mà không bị quốc gia nào phản bác thì vùng đất đó có thể trở thành một phần lãnh thổ nước này.
“Cho dù Trung Quốc chưa bao giờ thừa nhận sự chiếm đóng của các nước láng giềng tại các hòn đảo ở biển Nam Trung Hoa, vẫn có một thách thức lớn đối với Bắc Kinh. Vào năm 2020, các hòn đảo đó sẽ bị chiếm đóng hơn 50 năm tính từ những năm 70. Và năm 2020 đang tới gần.”
Ông tiến sĩ Ba không biết là ngư dân Quảng Ngãi đánh bắt cá quanh đảo Hoàng Sa từ những năm tiền sử, và quân đội VNCH đã trấn đóng trên đảo này từ những năm 1950, và chỉ thất thủ vì bị pháo hạm Trung Cộng tấn công năm 1974.
Tranh chấp về chủ quyền các hải đảo trên Biển Ðông được Trung Cộng cho phép, nếu tranh chấp diễn tiến theo phương thức song phương; điều tối kỵ của Trung Cộng là đa phương hóa và quốc tế hoá những tranh chấp trên Biển Ðông.
Kinh nghiệm của một trong hai “vùng quyền lợi cốt lõi” bị Trung Cộng nhắm nhía trước Biển Ðông -vùng hải đảo Ðài Loan- cho thấy là Trung Cộng sẽ thất bại tại Biển Ðông.  Cả hai vùng cốt lõi Ðài Loan và Biển Ðông đều là vùng biển, và hải quân Trung Cộng không đủ mạnh để khống chế mặt biển. Khả năng và kỹ thuật tác chiến trên mặt biển của hải quân Trung Cộng còn đi sau hải quân Hoa Kỳ 15 năm. Do đó họ không dám tấn công Ðài Loan. Nhưng lục quân Trung Cộng thừa sức chiếm Tây Tạng, mà Hoa Kỳ không làm gì được. Ưu điểm lục quân này lại không áp dụng được với Việt Nam, nên sự can thiệp của Hoa Kỳ khiến Trung Cộng lâm vào thế bị trói tay trên Biển Ðông.
Dư luận tố giác Trung Cộng dùng chính sách chia để trị, không cho phép những chiếc đũa được cột thành bó. Hoa Thịnh Ðốn đang giúp các nước Ðông Nam Á xích lại gần nhau tạo thế hổ tương.
Ông Trì tố cáo Hoa Kỳ can thiệp vào “việc riêng” của Trung Cộng, việc mà họ có thể giải quyết với các quốc gia đối tác. Ông đúng trong việc tố cáo Hoa Kỳ chen vào cuộc tranh chấp Biển Ðông, vì quả Hoa Kỳ có chen vào; nhưng ông không chứng minh được sự can thiệp đó là sai.
Không chứng minh được, bộ ngoại giao Trung Cộng cay cú viết thông cáo chê những lập luận ‘nghe như công bằng’ của bà Clinton ‘thực chất là một cuộc tấn công nhắm vào Trung Quốc’. Thông cáo nói thêm rằng ‘không có vấn đề gì’ trong việc tự do lưu thông trên hải lộ, cũng như không hề có bất an trên biển Đông, mà Hoa Kỳ chỉ nại ra để nhúng tay vào.
Trung Cộng có thể khẩu chiến nhiều hơn nữa, nhưng điều họ cần làm ngay là tìm cách đối phó với quả bom bà Clinton cho nổ ngay trên bàn hội nghị ARF 17. Sức ép của quả bom đang tiếp tục tàn phá uy thế của Trung Cộng.
Một tuần sau hội nghị ARF, Hà Nội chủ động chuyển thư mời các bộ trưởng quốc phòng của khối ASEAN nới rộng (ADMM+ là Asean Defence Ministers’Meeting cộng thêm các nước Hoa Kỳ, Nga, Trung Cộng, Nhật, Bắc Hàn, Ấn Ðộ, Úc và Tân Tây Lan) đến Việt Nam tham dự cuộc hội nghị dự định nhóm họp vào ngày 12 tháng Mười.
Trong một cuộc họp báo, thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh cho hay Việt Cộng sẽ tham vấn với Mỹ, Trung Quốc, và Nga để đưa ra chương trình hài lòng tất cả các bên. Vịnh cũng nói bộ trưởng Quốc phòng ASEAN và 8 nước đối tác đối thoại sẽ có phiên họp hẹp trước khi họ tham dự hội nghị ADMM+.
Lời mời của Việt Cộng được hưởng ứng nhanh chóng, khiến Vịnh tuyên bố, “Việc các nước lớn bày tỏ sự ủng hộ tích cực đối với ADMM+ thể hiện mong muốn của họ hợp tác với ASEAN, để can dự tích cực và hòa bình vào khu vực, mưu cầu ổn định, thịnh vượng chung và lợi ích cho từng quốc gia", là triệu chứng đáng mừng.
Theo ông Vịnh, bản thân ASEAN cũng mong muốn thu hút nguồn lực của các nước bên ngoài để đối phó với những thách thức an ninh đang nổi lên ở khu vực. Trong những “nguồn lực” này dĩ nhiên có khí giới, chiến hạm, phi cơ, hỏa tiễn, súng phòng không …, nhưng Hoa Kỳ sẽ không trực tiếp hiện diện trong tranh chấp.
Trả lời câu hỏi của phóng viên về việc liệu Biển Đông có được đưa vào chương trình nghị sự không, Vịnh nói là còn quá sớm để khẳng định vấn đề nào sẽ được thảo luận tại hội nghị. Trao đổi quan điểm và các vấn đề quan tâm, các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN và 8 nước cộng sẽ xác định các vấn đề cần ưu tiên thảo luận.
Tuy nhiên, sau quả bom Clinton, tổng trưởng quốc phòng các nước ADMM + đến Hà Nội để bàn chuyện gì, ngoài chuyện tìm giải pháp cho Biển Ðông. Vịnh e dè nói quanh, "Ðông Nam Á không chỉ có duy nhất vấn đề Biển Đông, mà còn nhiều khó khăn khác nữa. Việc đưa vấn đề nào ra thảo luận tại ADMM+ lần này thuộc thẩm quyền của các Bộ trưởng trong tiến trình hội nghị".
Tổ chức hội nghị ADMM+ ba tháng ngay sau ngày bế mạc hội nghị ARF17 cũng cho thấy là ASEAN ý thức được bản chất của những khó khăn trên Biển Ðông nặng tính chất quân sự.
Hoa Kỳ cũng không để mất thì giờ: trong lúc chờ đợi ADMM+,  tổng trưởng quốc phòng Robert Gates đến thăm Nam Hàn và Nam Dương; ông hội kiến với tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono về vấn đề an ninh khu vực.
 
Dấu hiệu đáng mừng là thái độ bắt đầu tự tin của tướng Vịnh: trả lời cuộc phỏng vấn của tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng (South China Morning Post), xuất bản tại Hong Kong, ông nói Việt Nam muốn gửi thông điệp cho cộng đồng quốc tế rằng Việt Nam sẽ "không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó".
Bài báo tựa đề 'Ánh thép và chiếc găng tay nhung của Việt Nam' (A flash of steel and the velvet glove from Vietnam) viết Việt Nam kêu gọi tăng lòng tin và sự minh bạch trong quan hệ với Trung Quốc.
Ông Vịnh nói củng cố quan hệ quốc phòng sẽ dẫn tới thúc đẩy quan hệ song phương mở rộng hơn giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ông bảo phóng viên báo South China Morning Post, “Không có biện pháp tăng cường lòng tin nào tốt hơn là rõ ràng minh bạch,” ý trách Trung Cộng nhập nhằng, đánh lận. Vịnh nói Việt Nam sẽ không bao giờ dùng vũ lực, nhưng đủ khả năng đối phó với vũ lực từ bên ngoài.
Khi được hỏi câu tuyên bố này có thể được hiểu là gần đây đã có đe dọa của Trung Quốc đòi sử dụng vũ lực với Việt Nam hay không, ông Vịnh trả lời: "Nên dành câu hỏi này cho Trung Quốc chứ không phải Việt Nam".
Khẩu quyết 18 chữ vàng đã rơi mất một nữa giúp câu nói của Vịnh cứng cát hẳn lên, chứ không còn “một lòng tuân lệnh Bắc Kinh” như vài tháng trước nữa.
Bài báo viết, nhận xét của ông Vịnh hé mở đôi chút về quan hệ quốc phòng Việt-Hoa, một trong các quan hệ chiến lược quan trọng nhất, nhưng cũng bí mật và nhiều nghi kỵ nhất trong khu vực.
Bà Clinton đã gỡ được cái ách Trung Cộng trên lưng người Việt Nam và công dân của nhiều quốc gia Ðông Nam Á; những công dân này đang nôn nóng chờ chứng kiến bản lãnh của ông Robert Gates, và cả của ông Barrack Obama nữa, nhân vật mà bà Clinton giới thiệu là sẽ đến Việt Nam năm 2011.
 
Nguyễn Ðạt Thịnh
   

 
CÁNH HOA THỜI LOẠN
(tặng những người phụ nữ tôi kính mến)


Bài và hình : Nam Lộc

Tôi bước vào chương trình Asia số 66, chủ đề “Cánh Hoa Thời Loạn” bằng những xúc động lớn lao, ngay trong giai đoạn chuẩn bị. Nhất là kể từ hôm một nữ khán giả trẻ, cô Tăng Thị Ngọc Lan tìm đến Trung Tâm Asia để trao lại cho tôi những lá thư viết từ chiến trường cùng một số hình ảnh của người anh trai, Cố Thiếu Tá Tăng Ngọc Nhã, tiểu đoàn trưởng 487 Ðịa Phương Quân, người đã anh dũng hy sinh tại chiến trường Bạc Liêu ngày 21 tháng 4 năm 1974.


Cả đêm hôm ấy tôi cứ trằn trọc mãi và không thể nào nhắm mắt nổi. Ðầu óc cứ bị ám ảnh bởi tấm hình chụp ngày tang lễ của Thiếu Tá Nhã hơn 36 năm về trước với hình ảnh người góa phụ trẻ chưa đầy 20 tuổi, khuôn mặt buồn vời vợi, ôm đứa con gái vừa mở mắt chào đời, chưa kịp nhìn thấy mặt cha. Bên cạnh là nét mặt khổ đau, chịu đựng của bà mẹ già đang nuốt lệ để tiễn đứa con trai yêu quý vừa đền xong nợ nước! Chiếc quan tài phủ lá cờ vàng cùng hàng chữ “ghi ơn” mờ nhạt, im buồn như bóng dáng của người em gái rụt rè đứng ở phía sau. Thật là một hình ảnh tàn nhẫn của chiến tranh, nó đã làm tả tơi bao cánh hoa trong thời ly loạn. Chỉ một tấm ảnh đó thôi người ta đã nhìn thấy cả ba thế hệ để tang!



Nhưng người lính nằm xuống trong cái “hòm gỗ cài hoa” được phủ cờ đó nghĩ gì? Chúng ta hãy đọc một đoạn của lá thư mà Thiếu Tá Nhã gởi về cho cô em gái lúc ông còn sống khi hay tin một người thân trong gia đình của ông vừa tử trận:

Kontum 14 tháng 3, 1968

Ngọc Lan em,
Anh rất lấy làm đau buồn khi nhận được tin anh Phương đã đền xong nợ nước ...........

Anh biết lúc này gia đình mình bị xúc động nhiều, em hãy thay anh khuyên nhủ ba má bớt sầu não, cầu nguyện cho linh hồn người đã ra đi, và hãnh diện cho gia đình mình, đã có người hy sinh vì tổ quốc, vì dân tộc...




Dồn dập những ngày sau đó, hàng trăm hình ảnh cùng nhiều lá thư đầy kỷ niệm với những nét chữ đã hoen nhòa vì nước mắt, kèm theo bao tài liệu lịch sử quý giá và sống thật, đã được khán thính giả lần lượt gởi đến cho Trung Tâm Asia, mà tôi là người được hân hạnh được trao cho trách nhiệm thực hiện những video clips để giới thiệu trong chương trình! Nhưng làm sao mà chỉ trong một vài phút tôi có thể diễn tả hết được những trang sử trác tuyệt của thời chinh chiến, nhất lại là những mẩu chuyện liên quan đến sự chịu đựng, cùng gương hy sinh và lòng quả cảm của những người phụ nữ Việt Nam thể hiện qua nhiều vai trò trong cuộc chiến dài nhất của lịch sử dân tộc. Vì thế tôi tự nhủ sau buổi thu hình mình sẽ phải viết và phải viết thật kỹ càng để ghi chép lại cho thế hệ mai sau biết được và hiểu được bao tấm gương hy sinh hào hùng của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cùng những “cánh hoa thời loạn!”

Tôi sẽ phải kể cho các con tôi nghe câu chuyện của nữ quân nhân Nguyễn Thị Kim Lang, người đã bị xử bắn vì chống đối chế độ Cộng Sản vào ngày rằm tháng 7 năm 1975 tại sân vận động Gò Công trong lúc chị đang mang thai đứa con đầu lòng trong bụng! Tôi cũng sẽ không thể không nhắc đến chiến công hiển hách của nữ Trung Sĩ Ngô Thị Hồng Phượng tại Sóc Trăng trong trận Tết Mậu Thân 1968.

Tôi sẽ phải nói đến hình ảnh can trường của nữ thiếu úy cảnh sát tên là Thái Kim Vân, người con gái độc thân, mới 22 tuổi đầu đã phải chịu lưu đầy trong các trại tù Việt Bắc, từ cải tạo cho đến hình sự với bản án chung thân khổ sai cũng chỉ vì chị đã hiên ngang và công khai lên tiếng tranh luận về những sai lầm của chủ nghĩa CS với các tên cai tù và cán bộ giảng huấn!



Thiếu Úy Thái Kim Vân
.

Thậm chí ngay khi vừa được thả ra sau gần 3 năm “học tập cải tạo,” Thiếu Úy Thái Kim Vân đã lập tức tham gia vào các hoạt động phục quốc, mà hậu quả là những trận đòn chí tử khi chị bị CS bắt lại. Người con gái tuy có trái tim gan dạ, nhưng với thân xác nhỏ bé, cô đã gục ngã trước những cuộc tra tấn dã man. Hậu quả của những tháng năm bị biệt giam trong thùng sắt, vừa đói, vừa lạnh khiến Thiếu Úy Thái Kim Vân bị lao phổi nặng. Nhưng CS đã không săn sóc hay chữa trị, mãi cho đến khi người nữ tù nhân can trường đang thoi thóp chết thì tổ chức Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International) mới biết đến và lên tiếng can thiệp mạnh mẽ, đồng thời với áp lực của nhiều cơ quan nhân đạo khác trên thế giới, CSVN đã phải trả tự do cho Thiếu Úy Thái Kim Vân sau hơn 18 năm giam giữ!

Nhưng Trời Phật đã không phụ kẻ có lòng, trong lúc tả tơi vì bệnh hoạn, ai cũng sợ bị lây, không dám đến gần! Ngoại trừ người bạn tù, Ðại Úy Nguyễn Thanh Nguyên, cựu SVSQ khóa 16 Võ Bị Ðà Lạt, vì tội nghiệp nên thỉnh thoảng đem thức ăn và thuốc men đến chỗ cô bị biệt giam để thăm viếng và săn sóc. Rồi từ thương hại đến thương... yêu, sau gần hai mươi năm lao lý, Việt Cộng đã phải thả tất cả tù chính trị, họ thành hôn và được chính phủ Hoa Kỳ nhận định cư qua diện tỵ nạn đặc biệt, đợt Z-05. Thượng đế thật công bằng, ngài đã bù lại cho họ một đứa con gái thông minh, xinh xắn và giỏi giang. Cháu Tina Nguyễn năm nay mới 12 tuổi, nhưng đã là học sinh xuất sắc nhất trường với những bằng khen từ Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama, và còn là một nhạc sĩ nổi tiếng trong học khu nơi cháu đang sống hạnh phúc bên cha mẹ.



Gia đình Thiếu Úy Thái Kim Vân hiện nay ở HK.

Thượng Ðế cũng không phụ lòng người “góa phụ ngây thơ,” nàng tên là Ngọc Di, 20 tuổi, mang bào thai 6 tháng được chồng vội vã đưa lên phi cơ để lánh nạn vào giờ phút lâm chung của thành phố Sài Gòn. Cô con gái “di tản trong bụng mẹ” tên là Ðan Vi giờ đã trở thành một bác sĩ nhãn khoa và cháu đã cùng người mẹ thủy chung, đồng thời cũng là vợ trung úy phi công Nguyễn Văn Lộc đi tìm xác chồng sau 33 năm biệt tín.



Hình mẹ & con cô Ngọc Di, tháng 8, 1975



Bác Sĩ Nguyễn Lộc Ðan Vi, 2001

Hai người phụ nữ, một mẹ, một con miệt mài trong nước mắt hơn 10 năm trời. Cho đến một ngày cuối tháng 10, 2008 mới tìm được nắm xương tàn của chàng phi công cảm tử cùng người bạn tù, trung úy phi hành Lê Văn Bé, cả hai đã bị CS bắn chết trong lúc rủ nhau vượt ngục. 33 năm sau vợ con mới chính thức đội khăn tang và đau xót nhặt từng mảnh di hài với những dòng lệ khô trên khóe mắt.



Hình mẹ & con cô Ngọc Di đang nhặt thi hài

Ngày 3 tháng 11, 2008 mẹ con ngồi trên phi cơ ôm mỗi người một bình tro trở về Hoa Kỳ. Ngọc Di ôm xác chồng, cháu Ðan Vi ôm bình tro chiến hữu của cha! Có người tò mò hỏi tại sao lại mang thêm di hài của người bạn tù vượt ngục? Ngọc Di trả lời: “Dạ, tại khi còn sống, nhà em vẫn thường nói, tâm nguyện của lính Không Quân là ' không bỏ anh em, không bỏ bạn bè!'”




“không bỏ anh em, không bỏ bạn bè”!

Và còn nhiều nữa, nhiều nữa, tôi sẽ phải viết một cách thật chi tiết về sự hy sinh vô bờ của những “nữ điệp viên” Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, của người biệt đội trưởng tình báo Thiên Nga (*), cùng bao thiên hùng sử và lòng quả cảm của những “Vì Sao Mùa Quốc Hận”!


Có nhiều bạn trẻ sinh ra và lớn lên ở Việt Nam vẫn thường thắc mắc hỏi: “Ai gây nên cảnh chiến tranh?” Làm tôi chợt nhớ đến câu nói thật thà và bình dị của nữ ca sĩ Sơn Ca khi trả lời lý do tại sao cô lại thích hát những nhạc phẩm ca ngợi hòa bình, cô nói: “Cũng như những người dân miền Nam Việt Nam thời bấy giờ, Sơn Ca rất mong chờ hòa bình sớm trở lại trên quê hương...” Tuy nhiên, cô đã không quên nhắc nhở mọi người rằng chiến tranh là do Cộng Sản Hà Nội chủ trương dùng vũ khí để xâm chiếm hầu áp đặt thể chế Cộng Sản trên toàn đất nước. Còn quân dân miền Nam Việt Nam chỉ luôn luôn ở thế tự vệ và lúc nào cũng yêu chuộng hòa bình!

Nhưng đã 35 năm qua, “hòa bình” đã đến trên quê hương ta, vậy tại sao những người phụ nữ VN vẫn khổ? Hàng ngàn, hàng vạn những “cánh hoa thời... bình” giờ phải hy sinh thân xác làm cô dâu bất đắc dĩ ở Ðài Loan hay Hàn Quốc để nuôi sống gia đình. Bao trẻ thơ bị bán đi làm nô lệ tình dục, và “nỗi buồn chiến tranh” vẫn đè nặng xuống thân phận của người dân miền Nam. Các bạn trẻ ở trong nước hãy tìm đọc tập truyện cùng tên (Nỗi Buồn Chiến Tranh) của nhà văn cùng chế độ, Bảo Ninh. Ông viết: “Họ, những người chiến bại cùng dòng máu ấy - sau khi tiếng ồn ào của những cuộc xung sát đã im bặt - tiếp tục hứng chịu khổ nạn: khổ nạn hòa bình. Người lành lặn thoát chết thì đi ở tù, người tàn tật thì, cho đến bây giờ, 35 năm sau, vẫn còn là những công dân... không-có-hạng trên đất nước của mình! Và những người đã chết phải chết thêm một lần nữa! Kể cả những bức tượng
!”

Sau chiến tranh, người chiến thắng vẫn tiếp tục tiến hành một cuộc chiến khác: cuộc chiến chống những người chiến bại... Ðến bao giờ?”

NAM LỘC

Tháng 8, 2010
Par phusi.over-blog.org
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Créer un blog gratuit sur over-blog.com - Contact - C.G.U. - Rémunération en droits d'auteur - Signaler un abus