*
HÃY THẮP CHO ANH MỘT NGỌN ĐÈN
Hình ảnh và kỷ vật của cô HSI Lý Thị Thương Uyên.
Giao Chỉ - San Jose
Giao Chỉ - San Jose
Sau cùng, suốt 30 năm tạp ghi, viết về cựu chiến binh, viết về thuyền nhân, viết về nước Mỹ, viết về Việt Nam Cộng Hòa, lần này tôi được yêu cầu viết về một mối tình. Nói cho chính xác, viết về chuyện tình của cô nữ quân nhân thuộc hàng thấp nhất của hạ sĩ quan.
Cô hạ sĩ nhất của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tên Lý thị Thương Uyên hiện cư ngụ tại Oklahoma City với Area code 405, giữa cơn giông bão mùa Xuân năm 2010 đã kể lại chuyện đời lính của phụ nữ Việt Nam. Cuộc đời của chính cô. Cô phàn nàn rằng sao không thấy bác viết về chuyện hạ sĩ quan binh sĩ. Không viết về người lính nữ quân nhân thực sự sống chết tại các đơn vị. Sao bác không viết về chuyện của em...
Cô Uyên gửi thư cho Dân sinh Radio sau khi nghe loạt bài về Thủy Quân lục chiến và trận Quảng Trị. Phải chăng cô biết gì về Quảng Trị. Không. Cô gái suốt đời là học sinh và suốt đời đi lính chỉ quanh quẩn ở hậu giang và miền Đông Nam Phần, chẳng biết gì về cao nguyên, duyên hải hay miền Trung Việt Nam.
Nhưng cô có liên hệ rất nhiều với người yêu thủy quân lục chiến, cô nghĩ rằng trận Quảng Trị là trận của người lính mũ xanh. Cô muốn gửi di vật của trung úy Thủy quân lục chiến Bùi Năng Vũ về cho viện Bảo Tàng tại San Jose.
Cô hạ sĩ nhất của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tên Lý thị Thương Uyên hiện cư ngụ tại Oklahoma City với Area code 405, giữa cơn giông bão mùa Xuân năm 2010 đã kể lại chuyện đời lính của phụ nữ Việt Nam. Cuộc đời của chính cô. Cô phàn nàn rằng sao không thấy bác viết về chuyện hạ sĩ quan binh sĩ. Không viết về người lính nữ quân nhân thực sự sống chết tại các đơn vị. Sao bác không viết về chuyện của em...
Cô Uyên gửi thư cho Dân sinh Radio sau khi nghe loạt bài về Thủy Quân lục chiến và trận Quảng Trị. Phải chăng cô biết gì về Quảng Trị. Không. Cô gái suốt đời là học sinh và suốt đời đi lính chỉ quanh quẩn ở hậu giang và miền Đông Nam Phần, chẳng biết gì về cao nguyên, duyên hải hay miền Trung Việt Nam.Nhưng cô có liên hệ rất nhiều với người yêu thủy quân lục chiến, cô nghĩ rằng trận Quảng Trị là trận của người lính mũ xanh. Cô muốn gửi di vật của trung úy Thủy quân lục chiến Bùi Năng Vũ về cho viện Bảo Tàng tại San Jose.
Lá thư viết như sau:
“Kính gởi bác Giao Chỉ.”
“Em tên thật là Lý thị Thương Uyên hiện ở Oklahoma, xin gởi một kỷ niệm nhỏ đến bác. Mong nó được lưu giữ. Đã 40 năm qua em giữ nó như báu vật. Qua bao nhiêu cuộc bể dâu nó vẫn ở bên mình. Không biết bao lần em đã tự hỏi nếu một mai chết đi thì nó sẽ ra sao? Có thể bảo con trai liệm chung trong quan tài cho mẹ. Khi sang thế giới bên kia em sẽ gặp Vũ để trả lại cho anh. Nhưng cuộc đời này làm sao biết được ngày mai. Vậy xin bác giữ lại và đặt vào chỗ nào đó cho em yên lòng.”
“Kỷ vật nhỏ bé gửi kèm theo chỉ là bài thơ do trung úy Thủy quân lục chiến Bùi Năng Vũ tặng em cuối mùa thu 1970, lúc đó đơn vị gốc của anh Vũ ở căn cứ Sóng Thần, khu Rừng Cấm, thuộc Tiểu Đoàn Ó Biển. Vũ đã chết ở trại tập trung Đà Lạt năm 1978. Đây là số điện thoại của Uyên (405)......”
Đính kèm là bài thơ của anh Sĩ quan Thủy quân lục chiến viết chữ rất đẹp, trên những tờ giấy màu xám mỏng bỏ trong 1 bao thơ đơn sơ cũ kỹ. Góc bao thơ đề: “Vũ, thủy quân lục chiến. Gửi cho Thương Uyên.”
Phía dưới là hàng chữ: “Nhờ Chỉnh chuyển dùm trao. Cám ơn.”
“Kỷ vật nhỏ bé gửi kèm theo chỉ là bài thơ do trung úy Thủy quân lục chiến Bùi Năng Vũ tặng em cuối mùa thu 1970, lúc đó đơn vị gốc của anh Vũ ở căn cứ Sóng Thần, khu Rừng Cấm, thuộc Tiểu Đoàn Ó Biển. Vũ đã chết ở trại tập trung Đà Lạt năm 1978. Đây là số điện thoại của Uyên (405)......”
Đính kèm là bài thơ của anh Sĩ quan Thủy quân lục chiến viết chữ rất đẹp, trên những tờ giấy màu xám mỏng bỏ trong 1 bao thơ đơn sơ cũ kỹ. Góc bao thơ đề: “Vũ, thủy quân lục chiến. Gửi cho Thương Uyên.”
Phía dưới là hàng chữ: “Nhờ Chỉnh chuyển dùm trao. Cám ơn.”
Bài thơ mở đầu như sau:
Lời hứa buổi hoang sơ tương ngộ.
Chỉ một lần xin nhớ đến trăm năm...
****
Đọc xong lá thư của cô Uyên, đọc xong bài thơ của anh Vũ, tôi nghĩ đến người lính trẻ đã chết trong ngục tù. Nghĩ đến người nữ quân nhân còn sống ở miền giông bão Hoa Kỳ. Bèn quay số 405..... hỏi thăm.....
Câu chuyện tình được bắt đầu kể lại.
Uyên quê ở Tân Châu, Hồng Ngự thuộc miền quê Châu Đốc, chưa học hết trung học nhưng có tên thật đẹp như bút hiệu nên cuộc đời cũng gặp nhiều phiền phức. 16 tuổi lên Sài Gòn ở nhà cậu mợ. 18 tuổi ghi tên vào học lớp hạ sĩ quan nữ quân nhân. Năm 70 ra trường nhưng vì thường cậy có chút nhan sắc lại ba gai nên không được mang cấp bậc trung sĩ. Cô chỉ tốt nghiệp hạ sĩ rồi được gửi đi Vũng Tàu học đánh máy ở trường Truyền Tin.
Tại đây cô gặp thiếu úy Vũ, dân Bắc kỳ. Anh được Thủy quân lục chiến đưa về học lớp sĩ quan truyền tin. Mối tình kéo dài suốt thời gian cả 2 người theo học tại Vũng Tàu. Cô Uyên hỏi bác Giao chỉ có biết đại tá Tạo chỉ huy trưởng trường truyền tin không. Có, bác Tạo trước đây ở San Jose, nhưng bác đã chết rồi. Cô khóa sinh khoe rằng em được bác Tạo cho chụp hình nữ quân nhân truyền tin đang học đánh máy để treo trên tường. Như vậy chắc cô lính trẻ có nhan sắc ăn ảnh đáng được chụp hình quảng cáo cho binh chủng.
Cô kể tiếp rằng mối tình với Vũ là mối tình đầu đẹp đẽ nhất. Khi trung úy đi hành quân Cam bốt, cô Uyên đến thăm hậu cứ trại Cấm, Sóng Thần đã được các bạn đồng nghiệp cho vào phòng truyền tin nói chuyện với người yêu qua siêu tần số hành quân. Nhưng rồi những ngày vui qua mau. Tình đầu không phải là tình cuối.
Một hôm Uyên khám phá ra rằng Vũ thực ra đã có người yêu. Đó là cô Sương quê Mỹ Tho, nữ điều dưỡng ở quân y viện Vũng Tàu. Sương quen Vũ từ khi anh nằm tại bệnh viện này. Uyên là người đến sau nên cô quyết định chia tay mối tình đầu đầy nước mắt. Vũ ra vùng hỏa tuyến. Uyên đổi về quân đoàn III. Rồi sau cùng cô đổi về tiểu khu Kiến Hòa thuộc quân đoàn IV. Cô xin đi thật xa miền Đông, nhưng vẫn nhớ Vũ và giữ mãi bài thơ tỏ tình năm 70.
Từ Hạ Lào trở về, Vũ lấy Sương, mối tình đầu của anh. Năm 1973 Uyên lấy thiếu úy Nhiều, một sĩ quan hải quân, phục vụ trên chiến hạm Trần Khánh Dư.
Từ đó Uyên yên phận làm vợ của người lính biển. Khi mang bầu đứa con đầu tiên, anh chồng sĩ quan hải quân lênh đênh trên biển Đông đã dặn vợ đẻ con gái đặt tên Cam Tuyền, con trai đặt tên Hoàng Sa. Cam Tuyền cũng là tên một hòn đảo của Hoàng Sa. Và đứa con trai Hoàng Sa đã ra đời tại Mỹ Tho. Hai vợ chồng cùng khoác chiến y nhưng chiến tranh đã chia cắt gia đình thành nhiều mảnh. Chồng hải quân sống trên đại dương. Vợ trực gác tổng đài tại mặt trận xình lầy Bến Tre. Con trai Hoàng Sa gửi về cho bà nội nuôi ở Châu Đốc.
Cô Uyên tiếp tục hăng hái kể chuyện nhà binh.
Sau mối tình đầu dang dở, cô và chị Sương nay vợ của Vũ đã gặp nhau nối thành tình bạn gái. Cuộc đời nữ quân nhân, với cấp bậc hạ sĩ rồi vinh thăng hạ sĩ nhất đã dành cho cô Uyên những kỷ niệm không bao giờ quên được. Cô đã từng là hoa hậu của các chiến binh độc thân trong đơn vị từ binh sĩ đến hạ sỹ quan. Vì mang cấp hạ sĩ, cô cai Uyên gần gũi với đa số lính tráng hơn là các sĩ quan nữ quân nhân.
Những đêm hỏa châu làm việc dưới hầm truyền tin tiểu khu. Những anh lính ca vọng cổ tán tỉnh. Những lời hò tình tứ qua máy truyền tin lẫn trong tiếng pháo kích. Hỏa châu sáng rực chân trời. Chưa bao giờ cô lại thấy nhớ đời lính như vậy.
Nhưng rồi tháng 4-75 oan nghiệt chợt đến. Anh Vũ, Bắc Kỳ bỏ Sóng Thần từ biệt cô Sương đi trình diện vào tù trên Đà Lạt. Anh Nhiều, Nam kỳ bỏ vợ con ở Châu Đốc đi tù trong Đồng Tháp. Bộ binh cũng vào tù, Hải quân cũng vào tù. Cô lính trẻ có tên như tài tử nhưng chỉ mang cấp bậc hạ sĩ nhất nên không phải đi tù. Dù vậy cô vẫn nhớ thương quân đội Cộng Hòa. Một lần chị Sương ghé Mỹ Tho gặp Uyên báo tin anh Vũ đau nặng trong trại tù. Chị em cùng đi tìm mua thuốc tiếp tế. Mấy tháng sau, Sương ghé lại với ngón tay đeo 2 chiếc nhẫn cưới. Cô vừa đi chôn chồng sau khi nhận xác từ trại tập trung. Anh lính trẻ Bắc Kỳ chết đi để lại cho những cô gái miền Tây di vật cuối cùng. Cô Sương còn cặp nhẫn. Cô Uyên có lá thư tình. Anh Vũ chết rồi. Cô Sương trợ tá quân y không bao giờ lên Đà lạt nữa. Cô Uyên truyền tin còn đi thăm nuôi chồng 3 lần ở Đồng Tháp. Rồi anh Nhiều trở về. Thêm 1 đứa con trai ra đời, anh cựu sĩ quan hải quân tuy ra tù “cải tạo” nhưng vẫn còn nhớ mãi biển Đông nên đặt tên con trai thứ hai là Trường Sa.
Năm 1992 gia đình anh Nhiều và cô Uyên đem cả Hoàng Sa và Trường Sa qua Hoa Kỳ theo diện HO 9. Hai vợ chồng cùng đi làm và nuôi con ăn học.
Nhưng sao cuộc sống hòa bình ở Hoa Kỳ không giống như thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam. Vợ chồng không còn hòa thuận nên chỉ ở được với nhau thêm 4 năm tại Mỹ rồi chia tay. Lần lượt những đứa con trai trưởng thành đi theo bố về Texas làm ăn. Anh Nhiều có vợ mới. Cô Uyên còn lại ở Oklahoma một mình.
Cháu Hoàng Sa lập gia đình, có 2 đứa con nhưng rồi vợ chồng nó cũng chia tay. Lúc còn ở với nhau, vợ chồng con trai đưa cháu về thăm bà nội. Đó là những giây phút hạnh phúc nhất của cô hạ sĩ nhất Thương Uyên. Nhưng bây giờ chúng nó bỏ nhau. Vợ Hoàng Sa đưa con về bà ngoại. Cha con nó còn ít gặằp nhau. Chẳng ai còn ngó ngàng gì đến bà nội trẻ cô đơn nhớ đám cháu quay quắt đêm ngày. Năm nay cô mới 60 tuổi. Còn lâu mới lãnh tiền già. Cô cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa vẫn đi làm tự nuôi thân. Cuối năm 2009 cô bị té trong hãng nên phải nằm nhà, lãnh tiền thương tật vì tai nạn lao động. Suốt ngày chỉ quanh quẩn trong nhà. Mùa Đông 2009 mưa bão triền miên chẳng ra khỏi nhà. Trải qua cái TẾT cô đơn, cô Uyên nghe đài Radio nói về Thủy quân lục chiến đánh trận Quảng Trị 38 năm về trước. Cô bèn đi tìm lá thư tình của Trung úy Vũ, cô nghĩ đến ngày mai rồi mình cũng qua đời trong quạnh hiu giữa mùa tuyết phủ nơi xứ lạ quê người.
Những đứa con Hoàng Sa và Trường Sa thân yêu của cô cũng đang bận rộn bươn trải với cuộc đời mới. Chỉ còn lại một mình, chợt nhớ về mối tình ở trường truyền tin, những vần thơ rất lãng mạn và ngây thơ của người lính trẻ Bắc kỳ. Cô hỏi bác Giao Chỉ rằng nếu bây giờ, đã gần 40 năm rồi, cô vẫn còn thấy nhớ thương mối tình đầu thì có phải tội lỗi không?
Không, cô cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa của tôi, cô hạ sĩ quan truyền tin của tiểu khu Kiến Hòa, nàng cai xếp của tiểu đoàn truyền tin diện địa quân đoàn IV, cô không làm điều gì sai quấy khi ngồi than khóc cho chuyện tình gần 40 năm về trước.. Anh chàng Trung úy Bùi Năng Vũ rất xứng đáng để cô gái Tân Châu ngồi khóc ở Oklahoma, nhớ về những ngày hai đứa ngồi bên hàng dừa ở bãi sau Vũng Tàu. Anh thấy hình em treo trên tường ở phòng học đánh máy trong trường truyền tin. Trung úy thủy quân lục chiến Bắc Kỳ tạm quên cô Sương y tá bên quân y viện để gửi thư tán tỉnh cô khóa sinh truyền tin xinh đẹp. Chàng ký tên bút hiệu Châu Nguyên năm 1970 gửi bài thơ cho Lý thị Thương Uyên.
Chỉ một lần xin nhớ đến trăm năm...
****
Đọc xong lá thư của cô Uyên, đọc xong bài thơ của anh Vũ, tôi nghĩ đến người lính trẻ đã chết trong ngục tù. Nghĩ đến người nữ quân nhân còn sống ở miền giông bão Hoa Kỳ. Bèn quay số 405..... hỏi thăm.....
Câu chuyện tình được bắt đầu kể lại.
Uyên quê ở Tân Châu, Hồng Ngự thuộc miền quê Châu Đốc, chưa học hết trung học nhưng có tên thật đẹp như bút hiệu nên cuộc đời cũng gặp nhiều phiền phức. 16 tuổi lên Sài Gòn ở nhà cậu mợ. 18 tuổi ghi tên vào học lớp hạ sĩ quan nữ quân nhân. Năm 70 ra trường nhưng vì thường cậy có chút nhan sắc lại ba gai nên không được mang cấp bậc trung sĩ. Cô chỉ tốt nghiệp hạ sĩ rồi được gửi đi Vũng Tàu học đánh máy ở trường Truyền Tin.
Tại đây cô gặp thiếu úy Vũ, dân Bắc kỳ. Anh được Thủy quân lục chiến đưa về học lớp sĩ quan truyền tin. Mối tình kéo dài suốt thời gian cả 2 người theo học tại Vũng Tàu. Cô Uyên hỏi bác Giao chỉ có biết đại tá Tạo chỉ huy trưởng trường truyền tin không. Có, bác Tạo trước đây ở San Jose, nhưng bác đã chết rồi. Cô khóa sinh khoe rằng em được bác Tạo cho chụp hình nữ quân nhân truyền tin đang học đánh máy để treo trên tường. Như vậy chắc cô lính trẻ có nhan sắc ăn ảnh đáng được chụp hình quảng cáo cho binh chủng.
Cô kể tiếp rằng mối tình với Vũ là mối tình đầu đẹp đẽ nhất. Khi trung úy đi hành quân Cam bốt, cô Uyên đến thăm hậu cứ trại Cấm, Sóng Thần đã được các bạn đồng nghiệp cho vào phòng truyền tin nói chuyện với người yêu qua siêu tần số hành quân. Nhưng rồi những ngày vui qua mau. Tình đầu không phải là tình cuối.
Một hôm Uyên khám phá ra rằng Vũ thực ra đã có người yêu. Đó là cô Sương quê Mỹ Tho, nữ điều dưỡng ở quân y viện Vũng Tàu. Sương quen Vũ từ khi anh nằm tại bệnh viện này. Uyên là người đến sau nên cô quyết định chia tay mối tình đầu đầy nước mắt. Vũ ra vùng hỏa tuyến. Uyên đổi về quân đoàn III. Rồi sau cùng cô đổi về tiểu khu Kiến Hòa thuộc quân đoàn IV. Cô xin đi thật xa miền Đông, nhưng vẫn nhớ Vũ và giữ mãi bài thơ tỏ tình năm 70.
Từ Hạ Lào trở về, Vũ lấy Sương, mối tình đầu của anh. Năm 1973 Uyên lấy thiếu úy Nhiều, một sĩ quan hải quân, phục vụ trên chiến hạm Trần Khánh Dư.
Từ đó Uyên yên phận làm vợ của người lính biển. Khi mang bầu đứa con đầu tiên, anh chồng sĩ quan hải quân lênh đênh trên biển Đông đã dặn vợ đẻ con gái đặt tên Cam Tuyền, con trai đặt tên Hoàng Sa. Cam Tuyền cũng là tên một hòn đảo của Hoàng Sa. Và đứa con trai Hoàng Sa đã ra đời tại Mỹ Tho. Hai vợ chồng cùng khoác chiến y nhưng chiến tranh đã chia cắt gia đình thành nhiều mảnh. Chồng hải quân sống trên đại dương. Vợ trực gác tổng đài tại mặt trận xình lầy Bến Tre. Con trai Hoàng Sa gửi về cho bà nội nuôi ở Châu Đốc.
Cô Uyên tiếp tục hăng hái kể chuyện nhà binh.
Sau mối tình đầu dang dở, cô và chị Sương nay vợ của Vũ đã gặp nhau nối thành tình bạn gái. Cuộc đời nữ quân nhân, với cấp bậc hạ sĩ rồi vinh thăng hạ sĩ nhất đã dành cho cô Uyên những kỷ niệm không bao giờ quên được. Cô đã từng là hoa hậu của các chiến binh độc thân trong đơn vị từ binh sĩ đến hạ sỹ quan. Vì mang cấp hạ sĩ, cô cai Uyên gần gũi với đa số lính tráng hơn là các sĩ quan nữ quân nhân.
Những đêm hỏa châu làm việc dưới hầm truyền tin tiểu khu. Những anh lính ca vọng cổ tán tỉnh. Những lời hò tình tứ qua máy truyền tin lẫn trong tiếng pháo kích. Hỏa châu sáng rực chân trời. Chưa bao giờ cô lại thấy nhớ đời lính như vậy.
Nhưng rồi tháng 4-75 oan nghiệt chợt đến. Anh Vũ, Bắc Kỳ bỏ Sóng Thần từ biệt cô Sương đi trình diện vào tù trên Đà Lạt. Anh Nhiều, Nam kỳ bỏ vợ con ở Châu Đốc đi tù trong Đồng Tháp. Bộ binh cũng vào tù, Hải quân cũng vào tù. Cô lính trẻ có tên như tài tử nhưng chỉ mang cấp bậc hạ sĩ nhất nên không phải đi tù. Dù vậy cô vẫn nhớ thương quân đội Cộng Hòa. Một lần chị Sương ghé Mỹ Tho gặp Uyên báo tin anh Vũ đau nặng trong trại tù. Chị em cùng đi tìm mua thuốc tiếp tế. Mấy tháng sau, Sương ghé lại với ngón tay đeo 2 chiếc nhẫn cưới. Cô vừa đi chôn chồng sau khi nhận xác từ trại tập trung. Anh lính trẻ Bắc Kỳ chết đi để lại cho những cô gái miền Tây di vật cuối cùng. Cô Sương còn cặp nhẫn. Cô Uyên có lá thư tình. Anh Vũ chết rồi. Cô Sương trợ tá quân y không bao giờ lên Đà lạt nữa. Cô Uyên truyền tin còn đi thăm nuôi chồng 3 lần ở Đồng Tháp. Rồi anh Nhiều trở về. Thêm 1 đứa con trai ra đời, anh cựu sĩ quan hải quân tuy ra tù “cải tạo” nhưng vẫn còn nhớ mãi biển Đông nên đặt tên con trai thứ hai là Trường Sa.
Năm 1992 gia đình anh Nhiều và cô Uyên đem cả Hoàng Sa và Trường Sa qua Hoa Kỳ theo diện HO 9. Hai vợ chồng cùng đi làm và nuôi con ăn học.
Nhưng sao cuộc sống hòa bình ở Hoa Kỳ không giống như thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam. Vợ chồng không còn hòa thuận nên chỉ ở được với nhau thêm 4 năm tại Mỹ rồi chia tay. Lần lượt những đứa con trai trưởng thành đi theo bố về Texas làm ăn. Anh Nhiều có vợ mới. Cô Uyên còn lại ở Oklahoma một mình.
Cháu Hoàng Sa lập gia đình, có 2 đứa con nhưng rồi vợ chồng nó cũng chia tay. Lúc còn ở với nhau, vợ chồng con trai đưa cháu về thăm bà nội. Đó là những giây phút hạnh phúc nhất của cô hạ sĩ nhất Thương Uyên. Nhưng bây giờ chúng nó bỏ nhau. Vợ Hoàng Sa đưa con về bà ngoại. Cha con nó còn ít gặằp nhau. Chẳng ai còn ngó ngàng gì đến bà nội trẻ cô đơn nhớ đám cháu quay quắt đêm ngày. Năm nay cô mới 60 tuổi. Còn lâu mới lãnh tiền già. Cô cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa vẫn đi làm tự nuôi thân. Cuối năm 2009 cô bị té trong hãng nên phải nằm nhà, lãnh tiền thương tật vì tai nạn lao động. Suốt ngày chỉ quanh quẩn trong nhà. Mùa Đông 2009 mưa bão triền miên chẳng ra khỏi nhà. Trải qua cái TẾT cô đơn, cô Uyên nghe đài Radio nói về Thủy quân lục chiến đánh trận Quảng Trị 38 năm về trước. Cô bèn đi tìm lá thư tình của Trung úy Vũ, cô nghĩ đến ngày mai rồi mình cũng qua đời trong quạnh hiu giữa mùa tuyết phủ nơi xứ lạ quê người.
Những đứa con Hoàng Sa và Trường Sa thân yêu của cô cũng đang bận rộn bươn trải với cuộc đời mới. Chỉ còn lại một mình, chợt nhớ về mối tình ở trường truyền tin, những vần thơ rất lãng mạn và ngây thơ của người lính trẻ Bắc kỳ. Cô hỏi bác Giao Chỉ rằng nếu bây giờ, đã gần 40 năm rồi, cô vẫn còn thấy nhớ thương mối tình đầu thì có phải tội lỗi không?
Không, cô cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa của tôi, cô hạ sĩ quan truyền tin của tiểu khu Kiến Hòa, nàng cai xếp của tiểu đoàn truyền tin diện địa quân đoàn IV, cô không làm điều gì sai quấy khi ngồi than khóc cho chuyện tình gần 40 năm về trước.. Anh chàng Trung úy Bùi Năng Vũ rất xứng đáng để cô gái Tân Châu ngồi khóc ở Oklahoma, nhớ về những ngày hai đứa ngồi bên hàng dừa ở bãi sau Vũng Tàu. Anh thấy hình em treo trên tường ở phòng học đánh máy trong trường truyền tin. Trung úy thủy quân lục chiến Bắc Kỳ tạm quên cô Sương y tá bên quân y viện để gửi thư tán tỉnh cô khóa sinh truyền tin xinh đẹp. Chàng ký tên bút hiệu Châu Nguyên năm 1970 gửi bài thơ cho Lý thị Thương Uyên.
Lời hứa buổi hoang sơ tương ngộ.
Chỉ một lần xin nhớ đến trăm năm.
Chỉ một lần xin nhớ đến trăm năm.
Đó là đoạn mở đầu. Và đây là những trích đoạn tiếp theo:
Bụi đường và tháng ngày còn đó.
Gởi cho Uyên làm kỷ niệm chia ly
Mai anh đi, nghe thời gian rũ cánh
Kiếp phong trần cháy đỏ trên tay
Đắng cay cho trọn tháng ngày
Cung thương một gánh, tình sầu chưa nguôi...
..............
Đá trong ly, đá tan thành rượu
Rượu lên men, rượu ngọt lịm môi...
...............
Có một ngàn vì sao
Nằm trong đáy mắt
Như một ngàn hỏa châu thắp sáng
Như một ngàn đóm thuốc trong đêm...
................
Em ơi! Thương Uyên! Anh là người lính
Mà số trời đã định, cho một cuộc sống
Với quá khứ là tủi nhục,
Hiện tại là đắng cay
Và tương lai chỉ là nấm mồ không tên nơi chiến địa...
Gởi cho Uyên làm kỷ niệm chia ly
Mai anh đi, nghe thời gian rũ cánh
Kiếp phong trần cháy đỏ trên tay
Đắng cay cho trọn tháng ngày
Cung thương một gánh, tình sầu chưa nguôi...
..............
Đá trong ly, đá tan thành rượu
Rượu lên men, rượu ngọt lịm môi...
...............
Có một ngàn vì sao
Nằm trong đáy mắt
Như một ngàn hỏa châu thắp sáng
Như một ngàn đóm thuốc trong đêm...
................
Em ơi! Thương Uyên! Anh là người lính
Mà số trời đã định, cho một cuộc sống
Với quá khứ là tủi nhục,
Hiện tại là đắng cay
Và tương lai chỉ là nấm mồ không tên nơi chiến địa...
Châu Nguyên, cuối thu 70.
Với lá thư tình não nuột như vậy, anh trung úy thủy quân lục chiến đã chiếm được trái tim cô gái Tân Châu. Và như chúng ta đã nghe cô hạ sĩ truyền tin kể lại, khi khám phá ra anh trung úy Bắc Kỳ bắt cá hai tay, cô đã bỏ đi để buộc anh phải trở lại với mối tình đầu. Để anh lấy chị Sương, người con gái Mỹ Tho.
Cô Uyên nói rằng, thưa với bác, em nhường Vũ cho chị Sương, nhưng em hỏi bác vì bác cũng là Bắc Kỳ, thơ này có phải thực lòng của anh Vũ không. Có phải thơ của Vũ làm không? Bác trả lời rằng, thơ này nhiều phần chính Vũ đã làm. Bác chưa từng đọc được lời thơ này ở đâu cả. Rất chân thành tuy cũng có phần cường điệu.. Người lính trên khắp thế giới đều vẫn thường đưa cái chết ra để dọa dẫm người tình và dọa dẫm cả chính mình,.Ngày xưa, ở tuổi 20, mới vào quân đội, Vũ cũng là hình ảnh của những anh Bắc Kỳ như bác... Anh nào cũng thơ thẩn bước vào đời. Thơ không làm được thì chép thơ thiên hạ tán đào. Bây giờ nhớ lại, ngượng chín cả người.
Quí vị đã nghe tôi kể chuyện của cô Uyên với nội dung không phải là một bi kịch ai oán não nùng. Không hề có những tình tiết éo le rắc rối. Nhưng mối tình đầu đã làm cô tưởng nhớ về những năm còn trong quân đội. Tuy bom đạn triền miên nhưng sao lại quyến rũ như vậy. Dù cô chỉ là 1 người lính đàn bà. 18 tuổi nhập ngũ, 25 tuổi tan hàng, với 7 năm quân vụ. Bây giờ đã 35 năm sau cô vẫn còn nhớ mãi về đời lính.
Bác có nhận giữ hộ lá thư của anh Vũ không. Cô gái Tân Châu hỏi tôi như vậy. Trả lời rằng, bác sẽ lưu giữ trong Museum câu chuyện tình của anh chị. Xin gửi kèm cho bác vài tấm hình kỷ niệm. Báu vật quý giá của cô sẽ là di vật của Việt Nam Cộng Hòa. Ở đây không phải chỉ toàn là những trận đánh oai hùng. Phải có cả những câu chuyện tình hết sức đơn giản như mối tình của cô Uyên với anh Vũ, chuyện vợ chồng của anh Vũ với chị Sương. Chuyện chia tay của cô Uyên với anh Nhiều. Những đứa con mang tên Hoàng Sa và Trường Sa. Và sau cùng là chuyện cô gái cựu chiến binh, cô cai xếp Việt Nam Cộng Hòa giữa trời mưa bão mùa đông Oklahoma ngồi khóc cho mối tình 40 năm về trước.
Thưa bác, bây giờ em phải làm gì, cô Uyên hỏi tôi lần nữa.
Tôi trả lời rằng: Trung úy Vũ là người yêu đầu tiên của cô năm 1970 và bây giờ sẽ là người yêu cuối cùng vào năm 2010. Trong đoạn cuối của bài thơ ,Vũ đã viết rằng tương lai của anh chỉ là nấm mồ không tên nơi chiến địa.
Vậy cô Uyên hãy thắp cho anh Vũ một ngọn đèn.
Cô Uyên nói rằng, thưa với bác, em nhường Vũ cho chị Sương, nhưng em hỏi bác vì bác cũng là Bắc Kỳ, thơ này có phải thực lòng của anh Vũ không. Có phải thơ của Vũ làm không? Bác trả lời rằng, thơ này nhiều phần chính Vũ đã làm. Bác chưa từng đọc được lời thơ này ở đâu cả. Rất chân thành tuy cũng có phần cường điệu.. Người lính trên khắp thế giới đều vẫn thường đưa cái chết ra để dọa dẫm người tình và dọa dẫm cả chính mình,.Ngày xưa, ở tuổi 20, mới vào quân đội, Vũ cũng là hình ảnh của những anh Bắc Kỳ như bác... Anh nào cũng thơ thẩn bước vào đời. Thơ không làm được thì chép thơ thiên hạ tán đào. Bây giờ nhớ lại, ngượng chín cả người.
Quí vị đã nghe tôi kể chuyện của cô Uyên với nội dung không phải là một bi kịch ai oán não nùng. Không hề có những tình tiết éo le rắc rối. Nhưng mối tình đầu đã làm cô tưởng nhớ về những năm còn trong quân đội. Tuy bom đạn triền miên nhưng sao lại quyến rũ như vậy. Dù cô chỉ là 1 người lính đàn bà. 18 tuổi nhập ngũ, 25 tuổi tan hàng, với 7 năm quân vụ. Bây giờ đã 35 năm sau cô vẫn còn nhớ mãi về đời lính.
Bác có nhận giữ hộ lá thư của anh Vũ không. Cô gái Tân Châu hỏi tôi như vậy. Trả lời rằng, bác sẽ lưu giữ trong Museum câu chuyện tình của anh chị. Xin gửi kèm cho bác vài tấm hình kỷ niệm. Báu vật quý giá của cô sẽ là di vật của Việt Nam Cộng Hòa. Ở đây không phải chỉ toàn là những trận đánh oai hùng. Phải có cả những câu chuyện tình hết sức đơn giản như mối tình của cô Uyên với anh Vũ, chuyện vợ chồng của anh Vũ với chị Sương. Chuyện chia tay của cô Uyên với anh Nhiều. Những đứa con mang tên Hoàng Sa và Trường Sa. Và sau cùng là chuyện cô gái cựu chiến binh, cô cai xếp Việt Nam Cộng Hòa giữa trời mưa bão mùa đông Oklahoma ngồi khóc cho mối tình 40 năm về trước.
Thưa bác, bây giờ em phải làm gì, cô Uyên hỏi tôi lần nữa.
Tôi trả lời rằng: Trung úy Vũ là người yêu đầu tiên của cô năm 1970 và bây giờ sẽ là người yêu cuối cùng vào năm 2010. Trong đoạn cuối của bài thơ ,Vũ đã viết rằng tương lai của anh chỉ là nấm mồ không tên nơi chiến địa.
Vậy cô Uyên hãy thắp cho anh Vũ một ngọn đèn.
Ngọn đèn tưởng niệm...
Hãy thắp cho anh một ngọn đèn...
Hãy thắp cho em một ngọn đèn...
Hãy thắp cho nhau một ngọn đèn...*
Hãy thắp cho em một ngọn đèn...
Hãy thắp cho nhau một ngọn đèn...*
*(thơ Nguyễn Đình Toàn)
Giao Chỉ, San Jose.
Mỹ chạm vào “vùng quyền lợi cốt lõi” thứ ba của Trung Cộng
Nguyễn Ðạt Thịnh
Ngày 22 Tháng 7, 2010, ngoại trưởng Mỹ Hilary Rodham Clinton tuyên bố tại Hà Nội là Hoa Kỳ coi việc giải quyết một cách hòa bình những tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông là mối quan tâm mang tầm mức quốc gia của người Mỹ, đồng thời bà hối thúc các quốc gia liên quan nên gấp rút đàm phán để tìm giải pháp.
Bà còn nói Hoa Thịnh Ðốn quan ngại rằng những tuyên bố chủ quyền mâu thuẫn của nhiều nước về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa làm ảnh hưởng tới giao thương hàng hải, cản trở việc tiếp cận vùng hải phận quốc tế ở khu vực này và hủy hoại luật về biển của Liên Hiệp Quốc.
Sóng thần là sản phẩm của địa chấn dưới lòng biển, và sóng thần chính trị nổi lên trong cuộc hội nghị Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF) diễn ra vào tuần lễ thứ 3 của tháng Bẩy, là sản phẩm của chính sách ngoại giao bằng pháo hạm của Trung Cộng.
Những chiếc pháo hạm hóa trang thành tầu cảnh sát biển bắt ngư dân hành nghề trên Biển Ðông phải tuân hành luật lệ Trung Cộng; ngư thuyền nào hành nghề trong những tháng Trung Cộng cấm hành nghề sẽ bị bắt, bị phạt, ngư dân bị đánh đập. Việc làm này mang mục đích Trung Quốc hoá Biển Ðông; mọi người không khỏi nhận xét như vậy, vì nếu Biển Ðông không phải là lãnh hải “của” Tầu thì tại sao cảnh sát biển Tầu lại bắt giữ những ngư thuyền đánh cá trên biển mà người Tầu gọi là “Nam Hải”.
Nụ cười ngoại giao tươi như hoa vẫn không tắt trên đôi môi son đỏ của bà Clinton khi bà nói lên những lời khuyến cáo rất hòa nhã này, nhưng hãng tin Bloomberg nói bà đã làm Trung Cộng nổi giận. Ngoại truởng Trung Cộng Dương Khiết Trì giận đến như thế nào, mà thái độ của ông được tờ Tuần Việt Nam, trong số phát hành ngày 28 tháng Bẩy mô tả “Tạm gạt tính chất cứng rắn gần như là thịnh nộ trong phát biểu của Bộ trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì sang một bên, để tìm hiểu một cách tỉnh táo mọi vấn đề nằm trong ý kiến ông Dương nêu lên, chúng ta sẽ thấy gì?”
Hãng A.P. mô tả ông Trì mất bình tĩnh khi bà Clinton mở một lối thoát khác cho những bế tắc hiện nay trên Biển Ðông.
Tôi nghĩ ông Trì không nổi giận vì câu nói, mà vì người nói; nếu cũng một câu này, nhưng người nói ra lại là ngoại trưởng Pháp, Nhật hay Anh, thì phản ứng của ông Trì không “thịnh nộ” rõ rệt đến mức người ngoài cũng nhìn thấy.
Ông Trì là một nhà ngoại giao, bà Clinton cũng vậy, nhưng ông Trì mất bình tĩnh, trong lúc bà Clinton vẫn tươi cười, thì hai hình ảnh này cho thấy bản lĩnh của mỗi người. Câu bà Clinton nói nghe như vô can, nhưng đang làm Biển Ðông nổi sóng –sóng lớn như sóng thần; tạo nhiều ảnh hưởng quan trọng cho cả Trung Cộng lẫn Việt Cộng và các quốc gia Ðông Nam Á khác.
Yếu tố khiến ông Trì khó chịu là “miệng kẻ sang có gang, có thép.” Bà Clinton đại diện cho “kẻ sang” Hoa Kỳ đứng ra khuyến cáo một cuộc đàm phán đa phương, điều mà Trung Cộng không chấp nhận.
Ông Trì phản đối Hoa Kỳ mưu tính ‘quốc tế hóa’ vấn đề biển Đông – nơi những lời tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh đang gây xung đột với các quốc gia khác trong khu vực Ðông Nam Á từ hơn một năm nay.
Trong thông cáo đăng trên trang web của Bộ Ngoại giao Trung Cộng hôm 25 tháng Bẩy, ông Trì đặt câu hỏi: ‘Kết quả sẽ là như thế nào nếu vấn đề (biển Đông) bị quốc tế hóa và đa phương hóa? Điều đó sẽ chỉ làm cho vấn đề trở nên tồi tệ và khó giải quyết hơn.’ Ông quên không nói “tồi tệ hơn và khó giải quyết hơn” cho Trung Cộng, nhưng lại thoải mái hơn cho những quốc gia Ðông Nam Á.
Ngày 22 tháng Bẩy, ngày Hoa Kỳ nhập cuộc, sẽ được nhắc nhở như thời điểm đánh dấu một thay đổi căn bản trên Biển Ðông.
Trước hội nghị ARF, Trung Cộng đã long trọng công bố Biển Ðông là “vùng quyền lợi cốt lõi” của họ. Họ định nghĩa “vùng quyền lợi cốt lõi” là những địa phương trong đó họ quyết liệt không nhượng bộ, không thương thuyết.
Trung Cộng có 3 “vùng quyền lợi cốt lõi” (core interest) Ðài Loan, Tây Tạng, và Biển Ðông; Biển Ðông mới được tuyển vào địa vị “vùng quyền lợi cốt lõi” để cảnh cáo thế giới đừng xen vào, nhưng Hoa Kỳ vẫn phạm vào cấm điều này.
Trong 2 vùng được tuyển trước, “quyền lợi cốt lõi” của Trung Cộng là thống trị những chủng tộc sống trên lãnh thổ Tầu, hay lãnh thổ bị Tầu xâm chiếm mà không khuất phục quyền lực Trung Cộng: người Ðài Loan sống trong lãnh thổ trước kia bị sát nhập vào nước Tầu, và người Tây Tạng sống trong nước họ, bị Trung Cộng xâm chiếm.
Trong vùng quyền lợi cốt lõi số 3, Trung Cộng muốn độc chiếm chủ quyền và độc chiếm những nguồn lợi của Biển Ðông, giờ này những người “chủ cũ” của Biển Ðông như Việt Nam, Phi Luật Tân, Ðài Loan, Mã Lai, Nam Dương vẫn còn tranh chấp bảo vệ quyền đánh cá trên vùng biển họ vẫn sinh sống từ thủa khai thiên lập địa.
Tiến sĩ Giản Quân Ba thuộc Học viện Quan hệ Quốc tế, Đại học Phục Đán, Thượng Hải bảo phóng viên Nguyễn Trung của đài VOA là Trung Cộng có nhu cầu làm chủ Biển Ðông trước năm 2020, vì, “Nếu Bắc Kinh không thể giải quyết vấn đề tranh chấp và xác lập chủ quyền ở những hòn đảo và vùng lãnh hải trước năm 2020, đây sẽ là một thách thức lớn đối với Trung Quốc, bởi vì theo một nguyên tắc của luật quốc tế, nếu một quốc gia chiếm đóng một vùng đất hơn 50 năm mà không bị quốc gia nào phản bác thì vùng đất đó có thể trở thành một phần lãnh thổ nước này.
“Cho dù Trung Quốc chưa bao giờ thừa nhận sự chiếm đóng của các nước láng giềng tại các hòn đảo ở biển Nam Trung Hoa, vẫn có một thách thức lớn đối với Bắc Kinh. Vào năm 2020, các hòn đảo đó sẽ bị chiếm đóng hơn 50 năm tính từ những năm 70. Và năm 2020 đang tới gần.”
Ông tiến sĩ Ba không biết là ngư dân Quảng Ngãi đánh bắt cá quanh đảo Hoàng Sa từ những năm tiền sử, và quân đội VNCH đã trấn đóng trên đảo này từ những năm 1950, và chỉ thất thủ vì bị pháo hạm Trung Cộng tấn công năm 1974.
Tranh chấp về chủ quyền các hải đảo trên Biển Ðông được Trung Cộng cho phép, nếu tranh chấp diễn tiến theo phương thức song phương; điều tối kỵ của Trung Cộng là đa phương hóa và quốc tế hoá những tranh chấp trên Biển Ðông.
Kinh nghiệm của một trong hai “vùng quyền lợi cốt lõi” bị Trung Cộng nhắm nhía trước Biển Ðông -vùng hải đảo Ðài Loan- cho thấy là Trung Cộng sẽ thất bại tại Biển Ðông. Cả hai vùng cốt lõi Ðài Loan và Biển Ðông đều là vùng biển, và hải quân Trung Cộng không đủ mạnh để khống chế mặt biển. Khả năng và kỹ thuật tác chiến trên mặt biển của hải quân Trung Cộng còn đi sau hải quân Hoa Kỳ 15 năm. Do đó họ không dám tấn công Ðài Loan. Nhưng lục quân Trung Cộng thừa sức chiếm Tây Tạng, mà Hoa Kỳ không làm gì được. Ưu điểm lục quân này lại không áp dụng được với Việt Nam, nên sự can thiệp của Hoa Kỳ khiến Trung Cộng lâm vào thế bị trói tay trên Biển Ðông.
Dư luận tố giác Trung Cộng dùng chính sách chia để trị, không cho phép những chiếc đũa được cột thành bó. Hoa Thịnh Ðốn đang giúp các nước Ðông Nam Á xích lại gần nhau tạo thế hổ tương.
Ông Trì tố cáo Hoa Kỳ can thiệp vào “việc riêng” của Trung Cộng, việc mà họ có thể giải quyết với các quốc gia đối tác. Ông đúng trong việc tố cáo Hoa Kỳ chen vào cuộc tranh chấp Biển Ðông, vì quả Hoa Kỳ có chen vào; nhưng ông không chứng minh được sự can thiệp đó là sai.
Không chứng minh được, bộ ngoại giao Trung Cộng cay cú viết thông cáo chê những lập luận ‘nghe như công bằng’ của bà Clinton ‘thực chất là một cuộc tấn công nhắm vào Trung Quốc’. Thông cáo nói thêm rằng ‘không có vấn đề gì’ trong việc tự do lưu thông trên hải lộ, cũng như không hề có bất an trên biển Đông, mà Hoa Kỳ chỉ nại ra để nhúng tay vào.
Trung Cộng có thể khẩu chiến nhiều hơn nữa, nhưng điều họ cần làm ngay là tìm cách đối phó với quả bom bà Clinton cho nổ ngay trên bàn hội nghị ARF 17. Sức ép của quả bom đang tiếp tục tàn phá uy thế của Trung Cộng.
Một tuần sau hội nghị ARF, Hà Nội chủ động chuyển thư mời các bộ trưởng quốc phòng của khối ASEAN nới rộng (ADMM+ là Asean Defence Ministers’Meeting cộng thêm các nước Hoa Kỳ, Nga, Trung Cộng, Nhật, Bắc Hàn, Ấn Ðộ, Úc và Tân Tây Lan) đến Việt Nam tham dự cuộc hội nghị dự định nhóm họp vào ngày 12 tháng Mười.
Trong một cuộc họp báo, thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh cho hay Việt Cộng sẽ tham vấn với Mỹ, Trung Quốc, và Nga để đưa ra chương trình hài lòng tất cả các bên. Vịnh cũng nói bộ trưởng Quốc phòng ASEAN và 8 nước đối tác đối thoại sẽ có phiên họp hẹp trước khi họ tham dự hội nghị ADMM+.
Lời mời của Việt Cộng được hưởng ứng nhanh chóng, khiến Vịnh tuyên bố, “Việc các nước lớn bày tỏ sự ủng hộ tích cực đối với ADMM+ thể hiện mong muốn của họ hợp tác với ASEAN, để can dự tích cực và hòa bình vào khu vực, mưu cầu ổn định, thịnh vượng chung và lợi ích cho từng quốc gia", là triệu chứng đáng mừng.
Theo ông Vịnh, bản thân ASEAN cũng mong muốn thu hút nguồn lực của các nước bên ngoài để đối phó với những thách thức an ninh đang nổi lên ở khu vực. Trong những “nguồn lực” này dĩ nhiên có khí giới, chiến hạm, phi cơ, hỏa tiễn, súng phòng không …, nhưng Hoa Kỳ sẽ không trực tiếp hiện diện trong tranh chấp.
Trả lời câu hỏi của phóng viên về việc liệu Biển Đông có được đưa vào chương trình nghị sự không, Vịnh nói là còn quá sớm để khẳng định vấn đề nào sẽ được thảo luận tại hội nghị. Trao đổi quan điểm và các vấn đề quan tâm, các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN và 8 nước cộng sẽ xác định các vấn đề cần ưu tiên thảo luận.
Tuy nhiên, sau quả bom Clinton, tổng trưởng quốc phòng các nước ADMM + đến Hà Nội để bàn chuyện gì, ngoài chuyện tìm giải pháp cho Biển Ðông. Vịnh e dè nói quanh, "Ðông Nam Á không chỉ có duy nhất vấn đề Biển Đông, mà còn nhiều khó khăn khác nữa. Việc đưa vấn đề nào ra thảo luận tại ADMM+ lần này thuộc thẩm quyền của các Bộ trưởng trong tiến trình hội nghị".
Tổ chức hội nghị ADMM+ ba tháng ngay sau ngày bế mạc hội nghị ARF17 cũng cho thấy là ASEAN ý thức được bản chất của những khó khăn trên Biển Ðông nặng tính chất quân sự.
Hoa Kỳ cũng không để mất thì giờ: trong lúc chờ đợi ADMM+, tổng trưởng quốc phòng Robert Gates đến thăm Nam Hàn và Nam Dương; ông hội kiến với tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono về vấn đề an ninh khu vực.
Dấu hiệu đáng mừng là thái độ bắt đầu tự tin của tướng Vịnh: trả lời cuộc phỏng vấn của tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng (South China Morning Post), xuất bản tại Hong Kong, ông nói Việt Nam muốn gửi thông điệp cho cộng đồng quốc tế rằng Việt Nam sẽ "không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó".
Bài báo tựa đề 'Ánh thép và chiếc găng tay nhung của Việt Nam' (A flash of steel and the velvet glove from Vietnam) viết Việt Nam kêu gọi tăng lòng tin và sự minh bạch trong quan hệ với Trung Quốc.
Ông Vịnh nói củng cố quan hệ quốc phòng sẽ dẫn tới thúc đẩy quan hệ song phương mở rộng hơn giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ông bảo phóng viên báo South China Morning Post, “Không có biện pháp tăng cường lòng tin nào tốt hơn là rõ ràng minh bạch,” ý trách Trung Cộng nhập nhằng, đánh lận. Vịnh nói Việt Nam sẽ không bao giờ dùng vũ lực, nhưng đủ khả năng đối phó với vũ lực từ bên ngoài.
Khi được hỏi câu tuyên bố này có thể được hiểu là gần đây đã có đe dọa của Trung Quốc đòi sử dụng vũ lực với Việt Nam hay không, ông Vịnh trả lời: "Nên dành câu hỏi này cho Trung Quốc chứ không phải Việt Nam".
Khẩu quyết 18 chữ vàng đã rơi mất một nữa giúp câu nói của Vịnh cứng cát hẳn lên, chứ không còn “một lòng tuân lệnh Bắc Kinh” như vài tháng trước nữa.
Bài báo viết, nhận xét của ông Vịnh hé mở đôi chút về quan hệ quốc phòng Việt-Hoa, một trong các quan hệ chiến lược quan trọng nhất, nhưng cũng bí mật và nhiều nghi kỵ nhất trong khu vực.
Bà Clinton đã gỡ được cái ách Trung Cộng trên lưng người Việt Nam và công dân của nhiều quốc gia Ðông Nam Á; những công dân này đang nôn nóng chờ chứng kiến bản lãnh của ông Robert Gates, và cả của ông Barrack Obama nữa, nhân vật mà bà Clinton giới thiệu là sẽ đến Việt Nam năm 2011.
Ngày 22 Tháng 7, 2010, ngoại trưởng Mỹ Hilary Rodham Clinton tuyên bố tại Hà Nội là Hoa Kỳ coi việc giải quyết một cách hòa bình những tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông là mối quan tâm mang tầm mức quốc gia của người Mỹ, đồng thời bà hối thúc các quốc gia liên quan nên gấp rút đàm phán để tìm giải pháp.
Bà còn nói Hoa Thịnh Ðốn quan ngại rằng những tuyên bố chủ quyền mâu thuẫn của nhiều nước về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa làm ảnh hưởng tới giao thương hàng hải, cản trở việc tiếp cận vùng hải phận quốc tế ở khu vực này và hủy hoại luật về biển của Liên Hiệp Quốc.
Sóng thần là sản phẩm của địa chấn dưới lòng biển, và sóng thần chính trị nổi lên trong cuộc hội nghị Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF) diễn ra vào tuần lễ thứ 3 của tháng Bẩy, là sản phẩm của chính sách ngoại giao bằng pháo hạm của Trung Cộng.
Những chiếc pháo hạm hóa trang thành tầu cảnh sát biển bắt ngư dân hành nghề trên Biển Ðông phải tuân hành luật lệ Trung Cộng; ngư thuyền nào hành nghề trong những tháng Trung Cộng cấm hành nghề sẽ bị bắt, bị phạt, ngư dân bị đánh đập. Việc làm này mang mục đích Trung Quốc hoá Biển Ðông; mọi người không khỏi nhận xét như vậy, vì nếu Biển Ðông không phải là lãnh hải “của” Tầu thì tại sao cảnh sát biển Tầu lại bắt giữ những ngư thuyền đánh cá trên biển mà người Tầu gọi là “Nam Hải”.
Nụ cười ngoại giao tươi như hoa vẫn không tắt trên đôi môi son đỏ của bà Clinton khi bà nói lên những lời khuyến cáo rất hòa nhã này, nhưng hãng tin Bloomberg nói bà đã làm Trung Cộng nổi giận. Ngoại truởng Trung Cộng Dương Khiết Trì giận đến như thế nào, mà thái độ của ông được tờ Tuần Việt Nam, trong số phát hành ngày 28 tháng Bẩy mô tả “Tạm gạt tính chất cứng rắn gần như là thịnh nộ trong phát biểu của Bộ trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì sang một bên, để tìm hiểu một cách tỉnh táo mọi vấn đề nằm trong ý kiến ông Dương nêu lên, chúng ta sẽ thấy gì?”
Hãng A.P. mô tả ông Trì mất bình tĩnh khi bà Clinton mở một lối thoát khác cho những bế tắc hiện nay trên Biển Ðông.
Tôi nghĩ ông Trì không nổi giận vì câu nói, mà vì người nói; nếu cũng một câu này, nhưng người nói ra lại là ngoại trưởng Pháp, Nhật hay Anh, thì phản ứng của ông Trì không “thịnh nộ” rõ rệt đến mức người ngoài cũng nhìn thấy.
Ông Trì là một nhà ngoại giao, bà Clinton cũng vậy, nhưng ông Trì mất bình tĩnh, trong lúc bà Clinton vẫn tươi cười, thì hai hình ảnh này cho thấy bản lĩnh của mỗi người. Câu bà Clinton nói nghe như vô can, nhưng đang làm Biển Ðông nổi sóng –sóng lớn như sóng thần; tạo nhiều ảnh hưởng quan trọng cho cả Trung Cộng lẫn Việt Cộng và các quốc gia Ðông Nam Á khác.
Yếu tố khiến ông Trì khó chịu là “miệng kẻ sang có gang, có thép.” Bà Clinton đại diện cho “kẻ sang” Hoa Kỳ đứng ra khuyến cáo một cuộc đàm phán đa phương, điều mà Trung Cộng không chấp nhận.
Ông Trì phản đối Hoa Kỳ mưu tính ‘quốc tế hóa’ vấn đề biển Đông – nơi những lời tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh đang gây xung đột với các quốc gia khác trong khu vực Ðông Nam Á từ hơn một năm nay.
Trong thông cáo đăng trên trang web của Bộ Ngoại giao Trung Cộng hôm 25 tháng Bẩy, ông Trì đặt câu hỏi: ‘Kết quả sẽ là như thế nào nếu vấn đề (biển Đông) bị quốc tế hóa và đa phương hóa? Điều đó sẽ chỉ làm cho vấn đề trở nên tồi tệ và khó giải quyết hơn.’ Ông quên không nói “tồi tệ hơn và khó giải quyết hơn” cho Trung Cộng, nhưng lại thoải mái hơn cho những quốc gia Ðông Nam Á.
Ngày 22 tháng Bẩy, ngày Hoa Kỳ nhập cuộc, sẽ được nhắc nhở như thời điểm đánh dấu một thay đổi căn bản trên Biển Ðông.
Trước hội nghị ARF, Trung Cộng đã long trọng công bố Biển Ðông là “vùng quyền lợi cốt lõi” của họ. Họ định nghĩa “vùng quyền lợi cốt lõi” là những địa phương trong đó họ quyết liệt không nhượng bộ, không thương thuyết.
Trung Cộng có 3 “vùng quyền lợi cốt lõi” (core interest) Ðài Loan, Tây Tạng, và Biển Ðông; Biển Ðông mới được tuyển vào địa vị “vùng quyền lợi cốt lõi” để cảnh cáo thế giới đừng xen vào, nhưng Hoa Kỳ vẫn phạm vào cấm điều này.
Trong 2 vùng được tuyển trước, “quyền lợi cốt lõi” của Trung Cộng là thống trị những chủng tộc sống trên lãnh thổ Tầu, hay lãnh thổ bị Tầu xâm chiếm mà không khuất phục quyền lực Trung Cộng: người Ðài Loan sống trong lãnh thổ trước kia bị sát nhập vào nước Tầu, và người Tây Tạng sống trong nước họ, bị Trung Cộng xâm chiếm.
Trong vùng quyền lợi cốt lõi số 3, Trung Cộng muốn độc chiếm chủ quyền và độc chiếm những nguồn lợi của Biển Ðông, giờ này những người “chủ cũ” của Biển Ðông như Việt Nam, Phi Luật Tân, Ðài Loan, Mã Lai, Nam Dương vẫn còn tranh chấp bảo vệ quyền đánh cá trên vùng biển họ vẫn sinh sống từ thủa khai thiên lập địa.
Tiến sĩ Giản Quân Ba thuộc Học viện Quan hệ Quốc tế, Đại học Phục Đán, Thượng Hải bảo phóng viên Nguyễn Trung của đài VOA là Trung Cộng có nhu cầu làm chủ Biển Ðông trước năm 2020, vì, “Nếu Bắc Kinh không thể giải quyết vấn đề tranh chấp và xác lập chủ quyền ở những hòn đảo và vùng lãnh hải trước năm 2020, đây sẽ là một thách thức lớn đối với Trung Quốc, bởi vì theo một nguyên tắc của luật quốc tế, nếu một quốc gia chiếm đóng một vùng đất hơn 50 năm mà không bị quốc gia nào phản bác thì vùng đất đó có thể trở thành một phần lãnh thổ nước này.
“Cho dù Trung Quốc chưa bao giờ thừa nhận sự chiếm đóng của các nước láng giềng tại các hòn đảo ở biển Nam Trung Hoa, vẫn có một thách thức lớn đối với Bắc Kinh. Vào năm 2020, các hòn đảo đó sẽ bị chiếm đóng hơn 50 năm tính từ những năm 70. Và năm 2020 đang tới gần.”
Ông tiến sĩ Ba không biết là ngư dân Quảng Ngãi đánh bắt cá quanh đảo Hoàng Sa từ những năm tiền sử, và quân đội VNCH đã trấn đóng trên đảo này từ những năm 1950, và chỉ thất thủ vì bị pháo hạm Trung Cộng tấn công năm 1974.
Tranh chấp về chủ quyền các hải đảo trên Biển Ðông được Trung Cộng cho phép, nếu tranh chấp diễn tiến theo phương thức song phương; điều tối kỵ của Trung Cộng là đa phương hóa và quốc tế hoá những tranh chấp trên Biển Ðông.
Kinh nghiệm của một trong hai “vùng quyền lợi cốt lõi” bị Trung Cộng nhắm nhía trước Biển Ðông -vùng hải đảo Ðài Loan- cho thấy là Trung Cộng sẽ thất bại tại Biển Ðông. Cả hai vùng cốt lõi Ðài Loan và Biển Ðông đều là vùng biển, và hải quân Trung Cộng không đủ mạnh để khống chế mặt biển. Khả năng và kỹ thuật tác chiến trên mặt biển của hải quân Trung Cộng còn đi sau hải quân Hoa Kỳ 15 năm. Do đó họ không dám tấn công Ðài Loan. Nhưng lục quân Trung Cộng thừa sức chiếm Tây Tạng, mà Hoa Kỳ không làm gì được. Ưu điểm lục quân này lại không áp dụng được với Việt Nam, nên sự can thiệp của Hoa Kỳ khiến Trung Cộng lâm vào thế bị trói tay trên Biển Ðông.
Dư luận tố giác Trung Cộng dùng chính sách chia để trị, không cho phép những chiếc đũa được cột thành bó. Hoa Thịnh Ðốn đang giúp các nước Ðông Nam Á xích lại gần nhau tạo thế hổ tương.
Ông Trì tố cáo Hoa Kỳ can thiệp vào “việc riêng” của Trung Cộng, việc mà họ có thể giải quyết với các quốc gia đối tác. Ông đúng trong việc tố cáo Hoa Kỳ chen vào cuộc tranh chấp Biển Ðông, vì quả Hoa Kỳ có chen vào; nhưng ông không chứng minh được sự can thiệp đó là sai.
Không chứng minh được, bộ ngoại giao Trung Cộng cay cú viết thông cáo chê những lập luận ‘nghe như công bằng’ của bà Clinton ‘thực chất là một cuộc tấn công nhắm vào Trung Quốc’. Thông cáo nói thêm rằng ‘không có vấn đề gì’ trong việc tự do lưu thông trên hải lộ, cũng như không hề có bất an trên biển Đông, mà Hoa Kỳ chỉ nại ra để nhúng tay vào.
Trung Cộng có thể khẩu chiến nhiều hơn nữa, nhưng điều họ cần làm ngay là tìm cách đối phó với quả bom bà Clinton cho nổ ngay trên bàn hội nghị ARF 17. Sức ép của quả bom đang tiếp tục tàn phá uy thế của Trung Cộng.
Một tuần sau hội nghị ARF, Hà Nội chủ động chuyển thư mời các bộ trưởng quốc phòng của khối ASEAN nới rộng (ADMM+ là Asean Defence Ministers’Meeting cộng thêm các nước Hoa Kỳ, Nga, Trung Cộng, Nhật, Bắc Hàn, Ấn Ðộ, Úc và Tân Tây Lan) đến Việt Nam tham dự cuộc hội nghị dự định nhóm họp vào ngày 12 tháng Mười.
Trong một cuộc họp báo, thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh cho hay Việt Cộng sẽ tham vấn với Mỹ, Trung Quốc, và Nga để đưa ra chương trình hài lòng tất cả các bên. Vịnh cũng nói bộ trưởng Quốc phòng ASEAN và 8 nước đối tác đối thoại sẽ có phiên họp hẹp trước khi họ tham dự hội nghị ADMM+.
Lời mời của Việt Cộng được hưởng ứng nhanh chóng, khiến Vịnh tuyên bố, “Việc các nước lớn bày tỏ sự ủng hộ tích cực đối với ADMM+ thể hiện mong muốn của họ hợp tác với ASEAN, để can dự tích cực và hòa bình vào khu vực, mưu cầu ổn định, thịnh vượng chung và lợi ích cho từng quốc gia", là triệu chứng đáng mừng.
Theo ông Vịnh, bản thân ASEAN cũng mong muốn thu hút nguồn lực của các nước bên ngoài để đối phó với những thách thức an ninh đang nổi lên ở khu vực. Trong những “nguồn lực” này dĩ nhiên có khí giới, chiến hạm, phi cơ, hỏa tiễn, súng phòng không …, nhưng Hoa Kỳ sẽ không trực tiếp hiện diện trong tranh chấp.
Trả lời câu hỏi của phóng viên về việc liệu Biển Đông có được đưa vào chương trình nghị sự không, Vịnh nói là còn quá sớm để khẳng định vấn đề nào sẽ được thảo luận tại hội nghị. Trao đổi quan điểm và các vấn đề quan tâm, các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN và 8 nước cộng sẽ xác định các vấn đề cần ưu tiên thảo luận.
Tuy nhiên, sau quả bom Clinton, tổng trưởng quốc phòng các nước ADMM + đến Hà Nội để bàn chuyện gì, ngoài chuyện tìm giải pháp cho Biển Ðông. Vịnh e dè nói quanh, "Ðông Nam Á không chỉ có duy nhất vấn đề Biển Đông, mà còn nhiều khó khăn khác nữa. Việc đưa vấn đề nào ra thảo luận tại ADMM+ lần này thuộc thẩm quyền của các Bộ trưởng trong tiến trình hội nghị".
Tổ chức hội nghị ADMM+ ba tháng ngay sau ngày bế mạc hội nghị ARF17 cũng cho thấy là ASEAN ý thức được bản chất của những khó khăn trên Biển Ðông nặng tính chất quân sự.
Hoa Kỳ cũng không để mất thì giờ: trong lúc chờ đợi ADMM+, tổng trưởng quốc phòng Robert Gates đến thăm Nam Hàn và Nam Dương; ông hội kiến với tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono về vấn đề an ninh khu vực.
Dấu hiệu đáng mừng là thái độ bắt đầu tự tin của tướng Vịnh: trả lời cuộc phỏng vấn của tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng (South China Morning Post), xuất bản tại Hong Kong, ông nói Việt Nam muốn gửi thông điệp cho cộng đồng quốc tế rằng Việt Nam sẽ "không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó".
Bài báo tựa đề 'Ánh thép và chiếc găng tay nhung của Việt Nam' (A flash of steel and the velvet glove from Vietnam) viết Việt Nam kêu gọi tăng lòng tin và sự minh bạch trong quan hệ với Trung Quốc.
Ông Vịnh nói củng cố quan hệ quốc phòng sẽ dẫn tới thúc đẩy quan hệ song phương mở rộng hơn giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ông bảo phóng viên báo South China Morning Post, “Không có biện pháp tăng cường lòng tin nào tốt hơn là rõ ràng minh bạch,” ý trách Trung Cộng nhập nhằng, đánh lận. Vịnh nói Việt Nam sẽ không bao giờ dùng vũ lực, nhưng đủ khả năng đối phó với vũ lực từ bên ngoài.
Khi được hỏi câu tuyên bố này có thể được hiểu là gần đây đã có đe dọa của Trung Quốc đòi sử dụng vũ lực với Việt Nam hay không, ông Vịnh trả lời: "Nên dành câu hỏi này cho Trung Quốc chứ không phải Việt Nam".
Khẩu quyết 18 chữ vàng đã rơi mất một nữa giúp câu nói của Vịnh cứng cát hẳn lên, chứ không còn “một lòng tuân lệnh Bắc Kinh” như vài tháng trước nữa.
Bài báo viết, nhận xét của ông Vịnh hé mở đôi chút về quan hệ quốc phòng Việt-Hoa, một trong các quan hệ chiến lược quan trọng nhất, nhưng cũng bí mật và nhiều nghi kỵ nhất trong khu vực.
Bà Clinton đã gỡ được cái ách Trung Cộng trên lưng người Việt Nam và công dân của nhiều quốc gia Ðông Nam Á; những công dân này đang nôn nóng chờ chứng kiến bản lãnh của ông Robert Gates, và cả của ông Barrack Obama nữa, nhân vật mà bà Clinton giới thiệu là sẽ đến Việt Nam năm 2011.
Nguyễn Ðạt Thịnh
CÁNH HOA THỜI LOẠN
(tặng những người phụ nữ tôi kính mến)
Bài và hình : Nam Lộc
Tôi bước vào chương trình Asia số 66, chủ đề “Cánh Hoa Thời Loạn” bằng những xúc động lớn lao, ngay trong giai đoạn chuẩn bị. Nhất là kể từ hôm một nữ khán giả trẻ, cô Tăng Thị Ngọc Lan tìm đến Trung Tâm Asia để trao lại cho tôi những lá thư viết từ chiến trường cùng một số hình ảnh của người anh trai, Cố Thiếu Tá Tăng Ngọc Nhã, tiểu đoàn trưởng 487 Ðịa Phương Quân, người đã anh dũng hy sinh tại chiến trường Bạc Liêu ngày 21 tháng 4 năm 1974.
Cả đêm hôm ấy tôi cứ trằn trọc mãi và không thể nào nhắm mắt nổi. Ðầu óc cứ bị ám ảnh bởi tấm hình chụp ngày tang lễ của Thiếu Tá Nhã hơn 36 năm về trước với hình ảnh người góa phụ trẻ chưa đầy 20 tuổi, khuôn mặt buồn vời vợi, ôm đứa con gái vừa mở mắt chào đời, chưa kịp nhìn thấy mặt cha. Bên cạnh là nét mặt khổ đau, chịu đựng của bà mẹ già đang nuốt lệ để tiễn đứa con trai yêu quý vừa đền xong nợ nước! Chiếc quan tài phủ lá cờ vàng cùng hàng chữ “ghi ơn” mờ nhạt, im buồn như bóng dáng của người em gái rụt rè đứng ở phía sau. Thật là một hình ảnh tàn nhẫn của chiến tranh, nó đã làm tả tơi bao cánh hoa trong thời ly loạn. Chỉ một tấm ảnh đó thôi người ta đã nhìn thấy cả ba thế hệ để tang!

Nhưng người lính nằm xuống trong cái “hòm gỗ cài hoa” được phủ cờ đó nghĩ gì? Chúng ta hãy đọc một đoạn của lá thư mà Thiếu Tá Nhã gởi về cho cô em gái lúc ông còn sống khi hay tin một người thân trong gia đình của ông vừa tử trận:
Kontum 14 tháng 3, 1968
Ngọc Lan em,
Anh rất lấy làm đau buồn khi nhận được tin anh Phương đã đền xong nợ nước ...........
Anh biết lúc này gia đình mình bị xúc động nhiều, em hãy thay anh khuyên nhủ ba má bớt sầu não, cầu nguyện cho linh hồn người đã ra đi, và hãnh diện cho gia đình mình, đã có người hy sinh vì tổ quốc, vì dân tộc...

Dồn dập những ngày sau đó, hàng trăm hình ảnh cùng nhiều lá thư đầy kỷ niệm với những nét chữ đã hoen nhòa vì nước mắt, kèm theo bao tài liệu lịch sử quý giá và sống thật, đã được khán thính giả lần lượt gởi đến cho Trung Tâm Asia, mà tôi là người được hân hạnh được trao cho trách nhiệm thực hiện những video clips để giới thiệu trong chương trình! Nhưng làm sao mà chỉ trong một vài phút tôi có thể diễn tả hết được những trang sử trác tuyệt của thời chinh chiến, nhất lại là những mẩu chuyện liên quan đến sự chịu đựng, cùng gương hy sinh và lòng quả cảm của những người phụ nữ Việt Nam thể hiện qua nhiều vai trò trong cuộc chiến dài nhất của lịch sử dân tộc. Vì thế tôi tự nhủ sau buổi thu hình mình sẽ phải viết và phải viết thật kỹ càng để ghi chép lại cho thế hệ mai sau biết được và hiểu được bao tấm gương hy sinh hào hùng của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cùng những “cánh hoa thời loạn!”
Tôi sẽ phải kể cho các con tôi nghe câu chuyện của nữ quân nhân Nguyễn Thị Kim Lang, người đã bị xử bắn vì chống đối chế độ Cộng Sản vào ngày rằm tháng 7 năm 1975 tại sân vận động Gò Công trong lúc chị đang mang thai đứa con đầu lòng trong bụng! Tôi cũng sẽ không thể không nhắc đến chiến công hiển hách của nữ Trung Sĩ Ngô Thị Hồng Phượng tại Sóc Trăng trong trận Tết Mậu Thân 1968.
Tôi sẽ phải nói đến hình ảnh can trường của nữ thiếu úy cảnh sát tên là Thái Kim Vân, người con gái độc thân, mới 22 tuổi đầu đã phải chịu lưu đầy trong các trại tù Việt Bắc, từ cải tạo cho đến hình sự với bản án chung thân khổ sai cũng chỉ vì chị đã hiên ngang và công khai lên tiếng tranh luận về những sai lầm của chủ nghĩa CS với các tên cai tù và cán bộ giảng huấn!

Thiếu Úy Thái Kim Vân.
Thậm chí ngay khi vừa được thả ra sau gần 3 năm “học tập cải tạo,” Thiếu Úy Thái Kim Vân đã lập tức tham gia vào các hoạt động phục quốc, mà hậu quả là những trận đòn chí tử khi chị bị CS bắt lại. Người con gái tuy có trái tim gan dạ, nhưng với thân xác nhỏ bé, cô đã gục ngã trước những cuộc tra tấn dã man. Hậu quả của những tháng năm bị biệt giam trong thùng sắt, vừa đói, vừa lạnh khiến Thiếu Úy Thái Kim Vân bị lao phổi nặng. Nhưng CS đã không săn sóc hay chữa trị, mãi cho đến khi người nữ tù nhân can trường đang thoi thóp chết thì tổ chức Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International) mới biết đến và lên tiếng can thiệp mạnh mẽ, đồng thời với áp lực của nhiều cơ quan nhân đạo khác trên thế giới, CSVN đã phải trả tự do cho Thiếu Úy Thái Kim Vân sau hơn 18 năm giam giữ!
Nhưng Trời Phật đã không phụ kẻ có lòng, trong lúc tả tơi vì bệnh hoạn, ai cũng sợ bị lây, không dám đến gần! Ngoại trừ người bạn tù, Ðại Úy Nguyễn Thanh Nguyên, cựu SVSQ khóa 16 Võ Bị Ðà Lạt, vì tội nghiệp nên thỉnh thoảng đem thức ăn và thuốc men đến chỗ cô bị biệt giam để thăm viếng và săn sóc. Rồi từ thương hại đến thương... yêu, sau gần hai mươi năm lao lý, Việt Cộng đã phải thả tất cả tù chính trị, họ thành hôn và được chính phủ Hoa Kỳ nhận định cư qua diện tỵ nạn đặc biệt, đợt Z-05. Thượng đế thật công bằng, ngài đã bù lại cho họ một đứa con gái thông minh, xinh xắn và giỏi giang. Cháu Tina Nguyễn năm nay mới 12 tuổi, nhưng đã là học sinh xuất sắc nhất trường với những bằng khen từ Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama, và còn là một nhạc sĩ nổi tiếng trong học khu nơi cháu đang sống hạnh phúc bên cha mẹ.

Gia đình Thiếu Úy Thái Kim Vân hiện nay ở HK.
Thượng Ðế cũng không phụ lòng người “góa phụ ngây thơ,” nàng tên là Ngọc Di, 20 tuổi, mang bào thai 6 tháng được chồng vội vã đưa lên phi cơ để lánh nạn vào giờ phút lâm chung của thành phố Sài Gòn. Cô con gái “di tản trong bụng mẹ” tên là Ðan Vi giờ đã trở thành một bác sĩ nhãn khoa và cháu đã cùng người mẹ thủy chung, đồng thời cũng là vợ trung úy phi công Nguyễn Văn Lộc đi tìm xác chồng sau 33 năm biệt tín.

Hình mẹ & con cô Ngọc Di, tháng 8, 1975

Bác Sĩ Nguyễn Lộc Ðan Vi, 2001
Hai người phụ nữ, một mẹ, một con miệt mài trong nước mắt hơn 10 năm trời. Cho đến một ngày cuối tháng 10, 2008 mới tìm được nắm xương tàn của chàng phi công cảm tử cùng người bạn tù, trung úy phi hành Lê Văn Bé, cả hai đã bị CS bắn chết trong lúc rủ nhau vượt ngục. 33 năm sau vợ con mới chính thức đội khăn tang và đau xót nhặt từng mảnh di hài với những dòng lệ khô trên khóe mắt.

Hình mẹ & con cô Ngọc Di đang nhặt thi hài
Ngày 3 tháng 11, 2008 mẹ con ngồi trên phi cơ ôm mỗi người một bình tro trở về Hoa Kỳ. Ngọc Di ôm xác chồng, cháu Ðan Vi ôm bình tro chiến hữu của cha! Có người tò mò hỏi tại sao lại mang thêm di hài của người bạn tù vượt ngục? Ngọc Di trả lời: “Dạ, tại khi còn sống, nhà em vẫn thường nói, tâm nguyện của lính Không Quân là ' không bỏ anh em, không bỏ bạn bè!'”

“không bỏ anh em, không bỏ bạn bè”!
Và còn nhiều nữa, nhiều nữa, tôi sẽ phải viết một cách thật chi tiết về sự hy sinh vô bờ của những “nữ điệp viên” Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, của người biệt đội trưởng tình báo Thiên Nga (*), cùng bao thiên hùng sử và lòng quả cảm của những “Vì Sao Mùa Quốc Hận”!

Có nhiều bạn trẻ sinh ra và lớn lên ở Việt Nam vẫn thường thắc mắc hỏi: “Ai gây nên cảnh chiến tranh?” Làm tôi chợt nhớ đến câu nói thật thà và bình dị của nữ ca sĩ Sơn Ca khi trả lời lý do tại sao cô lại thích hát những nhạc phẩm ca ngợi hòa bình, cô nói: “Cũng như những người dân miền Nam Việt Nam thời bấy giờ, Sơn Ca rất mong chờ hòa bình sớm trở lại trên quê hương...” Tuy nhiên, cô đã không quên nhắc nhở mọi người rằng chiến tranh là do Cộng Sản Hà Nội chủ trương dùng vũ khí để xâm chiếm hầu áp đặt thể chế Cộng Sản trên toàn đất nước. Còn quân dân miền Nam Việt Nam chỉ luôn luôn ở thế tự vệ và lúc nào cũng yêu chuộng hòa bình!
Nhưng đã 35 năm qua, “hòa bình” đã đến trên quê hương ta, vậy tại sao những người phụ nữ VN vẫn khổ? Hàng ngàn, hàng vạn những “cánh hoa thời... bình” giờ phải hy sinh thân xác làm cô dâu bất đắc dĩ ở Ðài Loan hay Hàn Quốc để nuôi sống gia đình. Bao trẻ thơ bị bán đi làm nô lệ tình dục, và “nỗi buồn chiến tranh” vẫn đè nặng xuống thân phận của người dân miền Nam. Các bạn trẻ ở trong nước hãy tìm đọc tập truyện cùng tên (Nỗi Buồn Chiến Tranh) của nhà văn cùng chế độ, Bảo Ninh. Ông viết: “Họ, những người chiến bại cùng dòng máu ấy - sau khi tiếng ồn ào của những cuộc xung sát đã im bặt - tiếp tục hứng chịu khổ nạn: khổ nạn hòa bình. Người lành lặn thoát chết thì đi ở tù, người tàn tật thì, cho đến bây giờ, 35 năm sau, vẫn còn là những công dân... không-có-hạng trên đất nước của mình! Và những người đã chết phải chết thêm một lần nữa! Kể cả những bức tượng!”
“Sau chiến tranh, người chiến thắng vẫn tiếp tục tiến hành một cuộc chiến khác: cuộc chiến chống những người chiến bại... Ðến bao giờ?”
NAM LỘC
Tháng 8, 2010
(tặng những người phụ nữ tôi kính mến)
Bài và hình : Nam Lộc
Tôi bước vào chương trình Asia số 66, chủ đề “Cánh Hoa Thời Loạn” bằng những xúc động lớn lao, ngay trong giai đoạn chuẩn bị. Nhất là kể từ hôm một nữ khán giả trẻ, cô Tăng Thị Ngọc Lan tìm đến Trung Tâm Asia để trao lại cho tôi những lá thư viết từ chiến trường cùng một số hình ảnh của người anh trai, Cố Thiếu Tá Tăng Ngọc Nhã, tiểu đoàn trưởng 487 Ðịa Phương Quân, người đã anh dũng hy sinh tại chiến trường Bạc Liêu ngày 21 tháng 4 năm 1974.
Cả đêm hôm ấy tôi cứ trằn trọc mãi và không thể nào nhắm mắt nổi. Ðầu óc cứ bị ám ảnh bởi tấm hình chụp ngày tang lễ của Thiếu Tá Nhã hơn 36 năm về trước với hình ảnh người góa phụ trẻ chưa đầy 20 tuổi, khuôn mặt buồn vời vợi, ôm đứa con gái vừa mở mắt chào đời, chưa kịp nhìn thấy mặt cha. Bên cạnh là nét mặt khổ đau, chịu đựng của bà mẹ già đang nuốt lệ để tiễn đứa con trai yêu quý vừa đền xong nợ nước! Chiếc quan tài phủ lá cờ vàng cùng hàng chữ “ghi ơn” mờ nhạt, im buồn như bóng dáng của người em gái rụt rè đứng ở phía sau. Thật là một hình ảnh tàn nhẫn của chiến tranh, nó đã làm tả tơi bao cánh hoa trong thời ly loạn. Chỉ một tấm ảnh đó thôi người ta đã nhìn thấy cả ba thế hệ để tang!

Nhưng người lính nằm xuống trong cái “hòm gỗ cài hoa” được phủ cờ đó nghĩ gì? Chúng ta hãy đọc một đoạn của lá thư mà Thiếu Tá Nhã gởi về cho cô em gái lúc ông còn sống khi hay tin một người thân trong gia đình của ông vừa tử trận:
Kontum 14 tháng 3, 1968
Ngọc Lan em,
Anh rất lấy làm đau buồn khi nhận được tin anh Phương đã đền xong nợ nước ...........
Anh biết lúc này gia đình mình bị xúc động nhiều, em hãy thay anh khuyên nhủ ba má bớt sầu não, cầu nguyện cho linh hồn người đã ra đi, và hãnh diện cho gia đình mình, đã có người hy sinh vì tổ quốc, vì dân tộc...

Dồn dập những ngày sau đó, hàng trăm hình ảnh cùng nhiều lá thư đầy kỷ niệm với những nét chữ đã hoen nhòa vì nước mắt, kèm theo bao tài liệu lịch sử quý giá và sống thật, đã được khán thính giả lần lượt gởi đến cho Trung Tâm Asia, mà tôi là người được hân hạnh được trao cho trách nhiệm thực hiện những video clips để giới thiệu trong chương trình! Nhưng làm sao mà chỉ trong một vài phút tôi có thể diễn tả hết được những trang sử trác tuyệt của thời chinh chiến, nhất lại là những mẩu chuyện liên quan đến sự chịu đựng, cùng gương hy sinh và lòng quả cảm của những người phụ nữ Việt Nam thể hiện qua nhiều vai trò trong cuộc chiến dài nhất của lịch sử dân tộc. Vì thế tôi tự nhủ sau buổi thu hình mình sẽ phải viết và phải viết thật kỹ càng để ghi chép lại cho thế hệ mai sau biết được và hiểu được bao tấm gương hy sinh hào hùng của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cùng những “cánh hoa thời loạn!”
Tôi sẽ phải kể cho các con tôi nghe câu chuyện của nữ quân nhân Nguyễn Thị Kim Lang, người đã bị xử bắn vì chống đối chế độ Cộng Sản vào ngày rằm tháng 7 năm 1975 tại sân vận động Gò Công trong lúc chị đang mang thai đứa con đầu lòng trong bụng! Tôi cũng sẽ không thể không nhắc đến chiến công hiển hách của nữ Trung Sĩ Ngô Thị Hồng Phượng tại Sóc Trăng trong trận Tết Mậu Thân 1968.
Tôi sẽ phải nói đến hình ảnh can trường của nữ thiếu úy cảnh sát tên là Thái Kim Vân, người con gái độc thân, mới 22 tuổi đầu đã phải chịu lưu đầy trong các trại tù Việt Bắc, từ cải tạo cho đến hình sự với bản án chung thân khổ sai cũng chỉ vì chị đã hiên ngang và công khai lên tiếng tranh luận về những sai lầm của chủ nghĩa CS với các tên cai tù và cán bộ giảng huấn!

Thiếu Úy Thái Kim Vân.
Thậm chí ngay khi vừa được thả ra sau gần 3 năm “học tập cải tạo,” Thiếu Úy Thái Kim Vân đã lập tức tham gia vào các hoạt động phục quốc, mà hậu quả là những trận đòn chí tử khi chị bị CS bắt lại. Người con gái tuy có trái tim gan dạ, nhưng với thân xác nhỏ bé, cô đã gục ngã trước những cuộc tra tấn dã man. Hậu quả của những tháng năm bị biệt giam trong thùng sắt, vừa đói, vừa lạnh khiến Thiếu Úy Thái Kim Vân bị lao phổi nặng. Nhưng CS đã không săn sóc hay chữa trị, mãi cho đến khi người nữ tù nhân can trường đang thoi thóp chết thì tổ chức Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International) mới biết đến và lên tiếng can thiệp mạnh mẽ, đồng thời với áp lực của nhiều cơ quan nhân đạo khác trên thế giới, CSVN đã phải trả tự do cho Thiếu Úy Thái Kim Vân sau hơn 18 năm giam giữ!
Nhưng Trời Phật đã không phụ kẻ có lòng, trong lúc tả tơi vì bệnh hoạn, ai cũng sợ bị lây, không dám đến gần! Ngoại trừ người bạn tù, Ðại Úy Nguyễn Thanh Nguyên, cựu SVSQ khóa 16 Võ Bị Ðà Lạt, vì tội nghiệp nên thỉnh thoảng đem thức ăn và thuốc men đến chỗ cô bị biệt giam để thăm viếng và săn sóc. Rồi từ thương hại đến thương... yêu, sau gần hai mươi năm lao lý, Việt Cộng đã phải thả tất cả tù chính trị, họ thành hôn và được chính phủ Hoa Kỳ nhận định cư qua diện tỵ nạn đặc biệt, đợt Z-05. Thượng đế thật công bằng, ngài đã bù lại cho họ một đứa con gái thông minh, xinh xắn và giỏi giang. Cháu Tina Nguyễn năm nay mới 12 tuổi, nhưng đã là học sinh xuất sắc nhất trường với những bằng khen từ Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama, và còn là một nhạc sĩ nổi tiếng trong học khu nơi cháu đang sống hạnh phúc bên cha mẹ.

Gia đình Thiếu Úy Thái Kim Vân hiện nay ở HK.
Thượng Ðế cũng không phụ lòng người “góa phụ ngây thơ,” nàng tên là Ngọc Di, 20 tuổi, mang bào thai 6 tháng được chồng vội vã đưa lên phi cơ để lánh nạn vào giờ phút lâm chung của thành phố Sài Gòn. Cô con gái “di tản trong bụng mẹ” tên là Ðan Vi giờ đã trở thành một bác sĩ nhãn khoa và cháu đã cùng người mẹ thủy chung, đồng thời cũng là vợ trung úy phi công Nguyễn Văn Lộc đi tìm xác chồng sau 33 năm biệt tín.

Hình mẹ & con cô Ngọc Di, tháng 8, 1975

Bác Sĩ Nguyễn Lộc Ðan Vi, 2001
Hai người phụ nữ, một mẹ, một con miệt mài trong nước mắt hơn 10 năm trời. Cho đến một ngày cuối tháng 10, 2008 mới tìm được nắm xương tàn của chàng phi công cảm tử cùng người bạn tù, trung úy phi hành Lê Văn Bé, cả hai đã bị CS bắn chết trong lúc rủ nhau vượt ngục. 33 năm sau vợ con mới chính thức đội khăn tang và đau xót nhặt từng mảnh di hài với những dòng lệ khô trên khóe mắt.

Hình mẹ & con cô Ngọc Di đang nhặt thi hài
Ngày 3 tháng 11, 2008 mẹ con ngồi trên phi cơ ôm mỗi người một bình tro trở về Hoa Kỳ. Ngọc Di ôm xác chồng, cháu Ðan Vi ôm bình tro chiến hữu của cha! Có người tò mò hỏi tại sao lại mang thêm di hài của người bạn tù vượt ngục? Ngọc Di trả lời: “Dạ, tại khi còn sống, nhà em vẫn thường nói, tâm nguyện của lính Không Quân là ' không bỏ anh em, không bỏ bạn bè!'”

“không bỏ anh em, không bỏ bạn bè”!
Và còn nhiều nữa, nhiều nữa, tôi sẽ phải viết một cách thật chi tiết về sự hy sinh vô bờ của những “nữ điệp viên” Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, của người biệt đội trưởng tình báo Thiên Nga (*), cùng bao thiên hùng sử và lòng quả cảm của những “Vì Sao Mùa Quốc Hận”!

Có nhiều bạn trẻ sinh ra và lớn lên ở Việt Nam vẫn thường thắc mắc hỏi: “Ai gây nên cảnh chiến tranh?” Làm tôi chợt nhớ đến câu nói thật thà và bình dị của nữ ca sĩ Sơn Ca khi trả lời lý do tại sao cô lại thích hát những nhạc phẩm ca ngợi hòa bình, cô nói: “Cũng như những người dân miền Nam Việt Nam thời bấy giờ, Sơn Ca rất mong chờ hòa bình sớm trở lại trên quê hương...” Tuy nhiên, cô đã không quên nhắc nhở mọi người rằng chiến tranh là do Cộng Sản Hà Nội chủ trương dùng vũ khí để xâm chiếm hầu áp đặt thể chế Cộng Sản trên toàn đất nước. Còn quân dân miền Nam Việt Nam chỉ luôn luôn ở thế tự vệ và lúc nào cũng yêu chuộng hòa bình!
Nhưng đã 35 năm qua, “hòa bình” đã đến trên quê hương ta, vậy tại sao những người phụ nữ VN vẫn khổ? Hàng ngàn, hàng vạn những “cánh hoa thời... bình” giờ phải hy sinh thân xác làm cô dâu bất đắc dĩ ở Ðài Loan hay Hàn Quốc để nuôi sống gia đình. Bao trẻ thơ bị bán đi làm nô lệ tình dục, và “nỗi buồn chiến tranh” vẫn đè nặng xuống thân phận của người dân miền Nam. Các bạn trẻ ở trong nước hãy tìm đọc tập truyện cùng tên (Nỗi Buồn Chiến Tranh) của nhà văn cùng chế độ, Bảo Ninh. Ông viết: “Họ, những người chiến bại cùng dòng máu ấy - sau khi tiếng ồn ào của những cuộc xung sát đã im bặt - tiếp tục hứng chịu khổ nạn: khổ nạn hòa bình. Người lành lặn thoát chết thì đi ở tù, người tàn tật thì, cho đến bây giờ, 35 năm sau, vẫn còn là những công dân... không-có-hạng trên đất nước của mình! Và những người đã chết phải chết thêm một lần nữa! Kể cả những bức tượng!”
“Sau chiến tranh, người chiến thắng vẫn tiếp tục tiến hành một cuộc chiến khác: cuộc chiến chống những người chiến bại... Ðến bao giờ?”
NAM LỘC
Tháng 8, 2010
Publicité